THỬ LÝ GIẢI HIỆN TƯỢNG THƠ CHẾ LAN VIÊN

TRẦN MẠNH HẢO

Lời dẫn : Trần Mạnh Hảo xin gửi đến blogs QUÊCHOA ( blogs cá nhân được nhiều người đọc vào loại nhất VN- như trang www.tranhuong.com  cũng vào loại web được xếp hàng đầu về số lượng độc giả) của nhà văn Nguyễn Quang Lập hai bài viết về thơ Chế Lan Viên : 1- “ CHẾ LAN VIÊN-NGƯỜI LÀM VƯỜN VĨNH CỬU”, 2- “CHẾ LAN VIÊN VÀ BA NIỀM SỬNG SỐT”. Bài đầu có tên phụ là : “Chế Lan Viên – người muôn mặt”. Bài thứ hai có tên phụ là : “ Chế Lan Viên và Phản Chế Lan Viên”. Chúng tôi thấy cư dân trong chiếu rượu QUÊCHOA hầu như chưa hề đọc một bài phê bình thơ nào trong cả trăm bài phê bình văn học của chúng tôi đã công bố từ 25 năm nay. Nay chúng tôi muốn quý vị cùng chúng tôi thử lý giải hiện tượng thơ Chế Lan Viên , một nhà thơ lớn nhất thế kỷ thứ 20 của Việt Nam, phức tạp và mâu thuẫn nhất trong các văn nghệ sĩ bậc thầy của nước ta.

Đối với riêng tôi, Chế Lan Viên bao giờ cũng là một người anh lớn, một người thầy lớn, một thiên tài thi ca và một tấm gương chịu học nhất nước, sắc sảo và uyên bác ít ai bằng. Chế Lan Viên là một thi hào mà người yêu kẻ ghét ngang nhau.Những người căm ghét Chế coi ông là hung thần chuyên đánh anh em để lập công dâng đảng. Phe thù Chế Lan Viên chính là phe đổi mới theo ông Nguyễn Văn Linh cởi trói cho văn nghệ và trí thức. ( Ông Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh đã công khai thừa nhận đảng trói văn nghệ sĩ và trí thức khá lâu rồi, nay ta làm cách mạng cởi trói). Sau khi đảng thấy cởi trói cho các nhà văn là hớ, là lợi bất cập hại, liền trói đám cầm bút lại cho dễ quản lý. Chế Lan Viên đã thực hiện lệnh của đảng mà gây chiến với Nguyên Ngọc và Hoàng Ngọc Hiến bằng đao pháp tưng bừng khói lửa trên báo Văn Nghệ. Tất nhiên, kẻ chiến thắng là người của đảng. Mối thù của phe đổi mới với Chế Lan Viên rất lớn, đến nỗi vì con người Chế mà họ toan phủ nhận thiên tài thơ của ông. Chỉ sau khi Chế Lan Viên mất, ba tập thơ di cảo khổng lồ của ông được nhà văn Vũ Thị Thường ( là vợ) công bố, trưng ra một Chế Lan Viên khác, một Chế Lan Viên phản Chế Lan Viên, một Chế Lan Viên dùng thơ để phản biện chính trị, để nói toẹt ra rằng ông đã bị lừa ( bài “Bánh Vẽ”), ông đã có tội với nhân dân ( bài “Trừ đi”- các ông Cộng vào thì Chế ta Trừ đi ), ông đã đi nhầm đường…

Sự nhận thức lại rất quyết liệt này của Chế Lan Viên mà ông gọi là “Lộn trái”, là đảo chiều, là phản nhận thức, phản siêu hình, phản đề,  rất đúng với nguyên lý của phép biện chứng Mác-xít, tôn trọng và đề cao yếu tố đối lập, yếu tố phản đề, phản biện trong nhận thức luận : “ Mọi sự vật đều được cấu thành bởi các mặt đối lập thống nhất”. Không có sự tham gia của đối lập trong nhận thức, trong mọi hoạt động xã hội, được coi như là phản Mác-xít ! Sau khi ba tập di cảo thơ ra đời, hầu như phe đổi mới đã nhận thức lại về Chế Lan Viên; rằng hóa ra Chế mới là tổ sư đổi mới; rằng Chế chỉ giả vờ yêu đảng để yên thân mà viết di cảo thơ, lật lại con đường ông đã bị đi chứ không phải được đi…

Trong đời mình, Chế Lan Viên đã đánh nhiều người nhưng đã cứu nhiều người. Cuối năm 1974, trong rừng miền Đông Nam Bộ, nhà thơ Thanh Thảo có in bài thơ “ Người lính nói về thế hệ mình” trong báo Văn Nghệ Giải Phóng do nhà văn Anh Đức làm tổng biên tập. Sau khi báo ra, ông Trần Bạch Đằng đọc bài thơ này của Thanh Thảo, liền nổi trận lôi đình, quy kết bài thơ phản động, nối giáo cho giặc. Thanh Thảo nguy to, có thể bị bỏ tù ngay trong rừng vì một ông “Tố Hữu con” là anh Tư Ánh ( Trần Bạch Đằng) phán như thế. May quá, giữa Hà Nội, Chế Lan Viên đọc bài thơ này của Thanh Thảo và thấy bài thơ rất tốt, sao lại “giết nó”? Chế bèn tìm được chùm thơ khá hay của Thanh Thảo gồm ngót chục bài, liền in tất tần tật trên tạp chí “Tác Phẩm mới” cứu Thanh Thảo thoát án tù trong rừng Nam Bộ.

Năm 1982, trong trại viết văn ở Vũng Tàu do Hội nhà văn VN tổ chức, chúng tôi ( TMH) có viết bài thơ : “ Cho một nhà văn nằm xuống” nhân việc nhà văn Nguyên Hồng mất. Ngay lập tức bài thơ lọt tới tay ông Hà Xuân Trường và ông Hoàng Tùng  ( ông HXT là ủy viên trung ương đảng, trưởng ban văn hóa văn nghệ trung ương, ông HT ủy viên trung ương đảng, trong ban bí thư trung ương đảng) tuyên bố phải bỏ tù tên phản động số một TMH ngay trong cuộc họp giao ban và đưa tin lên báo; rằng ngày xưa đảng trao súng cho tên Hảo đi đánh Mỹ, nay hắn dám dùng súng của đảng bắn vào đảng. TMH tôi biết chắc chắn mình sẽ ở tù.

Chế Lan Viên là người đầu tiên cứu chúng tôi bằng cách gọi điện đi khắp nơi cho các ông to. Ông còn viết thư tay cho ông Lê Đức Thọ, Trường Chinh, Tố Hữu ( đưa thư cho chúng tôi đi gửi bưu điện ) nói đừng bắt thằng TMH, sẽ rất không tốt về chính trị, rằng đảng sẽ bị mang tiếng xấu là đàn áp quá mức nhà văn chỉ vì một bài thơ bất mãn ấm ớ…Ông viết cả thư cho Hoàng Phủ Ngọc Tường nhờ gọi đi các nơi cứu thằng TMH. Trong thư viết cho HPNT, ông dùng hai câu thơ của Đỗ Phủ thương Lý Bạch, khi Lý Bạch bị vua bắt đeo gong, đầy đi Qúy Châu để nói về TMH đang lâm nguy : “ Thế nhân giai dục sát / Ngô ý độc liên tài” ( mọi người đều muốn giết / Riêng lòng ta thương tài). Chúng tôi còn giữ lá thư của anh Hoàng Phủ Ngọc Tường nói rất kỹ về việc này. ( Việc chúng tôi thoát án tù năm 1982 còn do được nhiều “quý nhơn phù trợ” ví như nhà thơ Lưu Tọng Lư, nhà báo Thép Mới, ông Võ Văn Kiệt và ông Võ Trần Chí  “hai ông này là Ủy viên Bộ Chính trị từng là Bí thư thành ủy TP.HCM”…)…Vâng, Chế Lan Viên đích thị quê CHOA là người Quảng Trị, nơi “ Những đồi tranh ăn độc gió Lào”…

 Xin bạn đọc vào hai bài chính :

 CHẾ LAN VIÊN-NGƯỜI LÀM VƯỜN VĨNH CỬU

 Trần Mạnh Hảo

Gia đình văn chương họ Chế

 Ông đang ngồi nấu cám heo trong bếp, thấy khách tới, vội chạy ra mở cổng. Ông xin lỗi khách, chờ tí, vì nhà đi vắng hết, vả nồi cám heo đang sôi ở mức cao trào. Với gương mặt mồ hôi nhễ nhại, ông gân sức lực của người gần bảy mươi tuổi, ngoáy tít nồi cám heo bằng chiếc đũa cả sừng sỏ dáng vẻ rất chuyên nghiệp, như thể ông khiêu vũ cái vũ điệu của bếp núc.

 

Mới ngày hôm qua, từ cuộc hội thảo văn học tại Bồ Đào Nha về, với bao nhiêu chuyện trên trời, dưới đất, nào mây bay đi, nào hồn ở lại, nào các thiên hà có biết suy tưởng hay không đến sự ô nhiễm môi trường ăn mòn nhân tính…

Vâng, từ chân trời của thơ ca thế giới, với những hội nghị quốc tế, gặp gỡ đàm đạo với những nghệ sĩ lừng danh, những khách sạn sang trọng, những bữa ăn đắt tiền… Chế Lan Viên trở về với chân trời của riêng ông với gà heo, vườn tược và những bản thảo dập xóa như vườn cây bị nghìn bão đi qua. Từ năm 1937, năm tập thơ “Điêu tàn” ra đời cho đến ngày ông mất, Chế Lan Viên đã bày, đã soạn cho người Việt Nam, cho văn hoá Việt Nam những bữa ăn thơ thịnh soạn, ngon lành, trìu mến và sang trọng; chúng ta nào đã một lần biết được bếp núc thi ca ông vất vả, tần tảo và cực nhọc biết bao. Vâng, đôi khi văn học cũng cần phải có những nồi cám heo của mình, với những tro cùng trấu, những củi cùng lửa, những muỗi cùng ruồi, những mồ hôi cùng nước mắt…

Đúng như nhà phê bình Hoài Thanh nhận xét từ năm 1941: “Giữa đồng bằng văn học Việt Nam ở giữa thế kỷ hai mươi, Chế Lan Viên đứng sừng sững như một Tháp Chàm, chắc chắn và lẻ loi, bí mật… đột ngột xuất hiện giữa làng thơ Việt Nam như một niềm kinh dị…”. Từ độ 16 tuổi đến lúc viên tịch, quả thực, Chế Lan Viên vẫn chắc chắn và lẻ loi, bí mật, thậm chí sau khi hai tập thơ di cảo đồ sộ của ông ra mắt, ông vẫn tiếp tục để lại sau mình vô vàn niềm kinh dị cho người đọc như lời tiên tri của Hoài Thanh.

Như một lữ hành đơn độc, Chế Lan Viên đã lầm lũi vượt qua sa mạc siêu hình, đi từ “thung lũng đau thương đến cánh đồng vui” (đầu đề một bài viết của C.L.V.). Ra đến cánh đồng vui rồi, sao đôi lúc gương mặt ông vẫn đầm đìa giọt khóc? Và thơ ông, kỳ lạ thay, vẫn bàng bạc một nỗi đau như mưa phùn, như đom đóm, như thể những vết thương xưa của ông chưa chịu khép miệng mà chúng đang ca hát. Có lẽ, chính vì nỗi đau ma ám ấy, cái nỗi buồn thương định mệnh ấy đã làm nên cái bất tử của tập thơ “Ánh sáng và phù sa” do Nxb. Văn học ấn hành năm 1960, với số lượng phát hành kỷ lục: 6.070 cuốn. Tập thơ đã gây một tiếng vang cực lớn thời đó, chỉ trong vài ba tháng đầu đã bán hết. Có thể nói không ngoa rằng, “Ánh sáng và phù sa” đã thành cái mốc chuyển biến quan trọng của thơ Chế Lan Viên nói riêng, của thơ Việt Nam nói chung ( trong tập thơ còn một số bài dở vỉ chính trị thô thiển, ví như bài : “Ngô tổng thống trong dinh thuốc độc”). Sau hai mươi lăm năm, kể từ Thơ Mới ra đời, đến lúc “Ánh sáng và phù sa”, thơ Việt Nam đã xuất hiện một thi pháp mới, một giọng điệu mới, một cách cảm nghĩ mới. Rất tiếc, một tập thơ quan trọng như thế của thi ca hiện đại, ba mươi tư năm rồi chưa được tái bản. Có thể khẳng định một cách chắc chắn rằng, hầu hết các nhà thơ trên dưới năm mươi tuổi sống trên đất Bắc, những bước đầu chập chững làm thơ, đều có chịu ảnh hưởng của “Ánh sáng và phù sa”.

Cái chết, niềm hư vô và niềm cô đơn là nỗi ám ảnh khôn cùng của thơ ông ngay từ thời niên thiếu. Tâm hồn ông hầu như đã biến thành vỏ ốc của sự chết, để ngọn gió hư vô thổi vào và ngân lên bài ca bi ai, hoan lạc của bản hòa tấu cô đơn. Mới mười lăm, mười sáu tuổi, ông đã đi lại trên mặt đất như một cái Tháp Chàm. Ông mơ trong cả khi tỉnh thức. Đôi mắt của hồn ông chỉ nhìn thấy thế giới siêu hình, toàn là những bóng ma, những âm hồn phiêu dạt, những óc phọt, những xương trào, máu cuộn. Ông coi cái thế giới bên kia mới là đích thực hơn cái thế giới bên này, tin vào mà ngờ thực. Rất may là trời chưa kịp ban cho ông đôi cánh. Nếu không, ông đã bay lên tít mù xanh thẳm, biến thành tinh cầu vô định, nơi con người cũng như thơ ca không còn một chút trọng lượng. Và vì chưa có đôi cánh, ông đã coi vòm trời kia bất quá cũng chỉ là một bóng cây, các vì tinh tú cũng chẳng khác gì một trái ổi:

“Kìa em trông một vì sao đang rụng
Hãy nghiêng mình mà tránh đi nghe em…”

(Đêm tàn)

Ông hợp nhất mình với vũ trụ như làn hương hợp nhất với vòm trời. Tuy nhiên, ông thừa biết trò chơi của tạo hoá: vũ trụ vô tận kia cũng mong manh như một cánh phù dung, nên khuyên người yêu cũng chính là để khuyên mình. Những vì sao chói ngời và run rẩy kia, mi có thể rụng như sung vào tình yêu của ta bất cứ lúc nào. Quả thực, mỗi ban mai, những vì sao kia rụng đâu hết cả. Và vì vậy, chừng như những người đang yêu vì phải né tránh cái rơi rụng của các tinh cầu, nên dáng đi của họ có vẻ nghiêng nghiêng, nếu không muốn nói rằng như vệt nắng xiên khoai… Tuồng như Chế Lan Viên suốt đời phải đi kiểu nắng xiên khoai như vậy, để né tránh các tinh cầu hư vô rớt xuống từ bầu trời cô đơn, cắt rừng siêu hình ra mà tìm đến con người. Và khi ông tìm thấy con người, ông đã gặp được nỗi đau. Nỗi đau ấy ông gọi là hạnh phúc.

Những ngày hoàn tất tập thơ “Ánh sáng và phù sa”, Chế Lan Viên vừa trải qua bệnh phổi nặng. Đến nỗi ông tin rằng mình sắp chết. Chừng như niềm hư vô như một con mọt đang ăn rỗng ngực ông như nó từng ăn rỗng cả vũ trụ. Bên cạnh đó, số phận đã bắt ông phải uống chén đắng của cuộc tình tan vỡ, khiến ông gần như không còn nơi bám víu nữa. Nhưng, ở bên bờ tuyệt vọng, ông đã may mắn gặp được nàng thơ của mình. Nàng thơ đó có tên là cuộc sống.

Chừng như mỗi lần cái chết tính gõ cửa hồn ông, ông lại có thơ hay. Có thể nói, trong phản ứng hoá học của tư tưởng và cảm xúc để tạo ra một chất thứ ba là thi ca, cái chết hầu như là một chất xúc tác kỳ diệu của Chế Lan Viên. Và những cơn đau chính là nhiệt độ, là lửa để tạo ra phản ứng thi ca của ông. Ông đã có những câu thơ rất hay về đất nước, về con người, những câu thơ ám ảnh suốt một thời trai trẻ của tôi và nhiều bạn bè khác:

“Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét”

“Con nhớ em con thằng em liên lạc
Rừng thưa em băng, rừng rậm em chờ…”

Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở
Khi ta đi, đất đã hoá tâm hồn”

(Tiếng hát con tàu)

Đây là cái nhìn của ông, một người miền Trung về đất Bắc :

“Chỉ còn máu sông Hồng trong quả ngọt
Con chim ăn thấy vị phù sa trong tiếng hót”

(Giữa tết trồng cây)

Ông nhìn chân trời trong bài “Đọc Kiều”:

“Cỏ bên trời xanh một sắc Đạm Tiên” 

Ông nhìn thấy được tiếng chim và nghe được mùi hương quả chín từ thẳm xa đưa tới, trong một tình thương bình dị mà thẳm sâu đến sững sờ:

“Tiếng cu xa gáy đến phòng em
Bóng nhãn theo vào với tiếng chim
Bệnh yếu, em chưa về hái quả
Thương em, mùa lại đến đây tìm”

(Tiếng chim)

Quả thực, Chế Lan Viên có rất nhiều thơ hay, tứ thơ hay, nhiều bài thơ tứ tuyệt tuyệt vời, vừa rưng rưng sương khói cảm xúc, lại vừa chói lòa ánh sáng của trí tuệ. Ông tìm thấy ánh trăng sao trong bùn đất, thấy cái tơ non ngay trong linh hồn đá sỏi; thấy cái nước, cái lạnh trong lửa và ngược lại. Tôi đồ rằng ông đã suy tưởng bằng trái tim và xúc cảm bằng bộ óc? Và vì vậy, Thượng Đế chừng như đã cấu tạo nên cơ thể ông trong lúc Ngài mải làm thơ trong trạng thái hưng phấn không bình thường, nên đã bỏ lộn trái tim ông vào hộp sọ và đem bỏ hai bán cầu não ông xuống phía ngực trái?

Có người hận ông vì điều gì đó đã cho rằng, tâm hồn của ông “Điêu tàn” thuở nào như vầng trăng non đã bị gấu ăn hết. Rằng, Chế Lan Viên chỉ còn thuần có bộ óc. Rằng, ông chỉ làm thơ bằng trí thông minh, bằng trò chơi ma giáo của chữ nghĩa…Do đó, thơ ông trong suốt như nước phèn, không sinh vật cá tôm nào, thậm chí đến cả phù sa cũng không sống nổi trong cái dung dịch thơ lý trí kia (!) Không, vầng sáng của trí tuệ Chế Lan Viên đầy năng lượng sương khói, cái lý trí đầy ắp bản năng của ông bao giờ cũng là mảnh vườn màu mỡ cho thi ca sinh trưởng. Chúng ta thử đọc qua một bài thơ tứ tuyệt: “Tháp Bay-on bốn mặt”, ông đề dưới là viết trong mùa bệnh 1988, xem ông viết bằng trí thông minh hay viết bằng tình cảm :

“Anh là tháp Bay-on bốn mặt
Giấu đi ba, còn lại đấy là anh
Chỉ mặt đó mà nghìn trò cười khóc
Làm đau ba mặt kia trong cõi ẩn hình”
 

Vâng, có thể ông đã viết bài thơ này bằng trí thông minh, nhưng là trí thông minh của nỗi đau, của niềm nhức nhối. Hồn ông hình như vẫn lảng vảng, lẩn khuất đâu đây như ánh trăng, như hơi thở của ngôi nhà lý trí. Khi bài thơ đã đạt được sự hay, nó không còn phân biệt đâu là tư tưởng, đâu là cảm xúc, đâu là xác, đâu là hồn nữa.

Có người bảo Chế Lan Viên là người hai mặt trong đời và hai mặt trong thơ. Người ta đã cố ý biến ông thành con thò lò, thành con rối của thời thế, để đổ hết lỗi của những người khác vào ông. Làm như chính ông đã gây ra những thảm hoạ, những bi kịch của đời sống, những tráo trở bất nhẫn của kiếp người. Họ vẽ chân dung ông ra thành con ngáo ộp của văn nghệ, chuyên bắt nạt và sát phạt anh em ( cũng có một phần đúng) (!) Như bài thơ vừa trích dẫn, Chế Lan Viên tuyên bố rằng ông như tháp Bay-on có đến bốn mặt cơ, phải giấu đi ba mà chỉ bày ra một mặt. Đừng hiểu cái mặt này theo ý nghĩa chính trị. Xét về ý nghĩa triết học, mỗi con người quả tình có đến nghìn muôn bộ mặt giấu bên trong. Cái con người bên trong của chúng ta đã được tôn giáo diễn đạt bằng tượng Phật nghìn mắt, nghìn tay và dĩ nhiên phải hiểu là có cả nghìn gương mặt. Vậy cái chuyện bảo Chế Lan Viên có hai bộ mặt âu là chuyện thừa. Mỗi bộ mặt của hồn thơ ông hầu như quay về những hướng khác nhau, kéo bản thể của ông đi về muôn phía, toàn là những phía trái ngược nhau. Do đó, cái con người tinh thần của ông từng phút giây đều phải đau cái nỗi đau đoạn trường của Vệ Ưởng bị bảy con trâu kéo nát thịt da về bảy hướng. Nỗi đau chính là tình nhân đầu tiên và cuối cùng của thơ ông :

“Dẫu là Chúa cũng sinh từ ruột máu
Ta đẻ ra đời sao khỏi những cơn đau”

(Tổ quốc có bao giờ đẹp thế này chăng?)

Từ “Điêu tàn” đến “Ánh sáng và phù sa”, Chế Lan Viên phải mất gần hai mươi năm trăn trở, quằn quại, vật vã trên con đường đau khổ như chữ dùng của nhà văn Nga A-lếch-xây Tôn-xtôi. Ông đã phải bỏ đi, phải vượt qua cả một tập thơ của mình: “Gửi các anh”. Tập thơ này hầu như không phải do chính tay ông viết, nhợt nhạt và ấm ớ, giản đơn và tầm thường. Nó chính là một tập thơ đệm, một trạm trung chuyển, một gã ăn theo. Cũng giống như trong các tập thơ hùng vĩ của mình, đâu đây vẫn thấy thơ ông còn những bài đệm, những bài thơ trung tính, trung bình, những bài thơ cảm xúc bò như sên và lý lẽ thì phóng nhanh như tên lửa. Nhưng đó là chuyện bình thường, đừng vì một hạt sạn bé con mà bỏ đi cả nồi cơm gạo tám thơm ngon.

Chế Lan Viên là một thiên tài. Mà tất cả các thiên tài đều tự mâu thuẫn, nhiều giằng xé không sao giải quyết. Trong ông, con sư tử và con nai ở chung với nhau, mèo phải hội họp với chuột, cái ác và cái thiện là một cặp bài trùng chuyên môn cãi lộn nhau, sự thuỷ chung và sự phản bội phải làm phép hôn phối trước vị linh mục có tên là nhân tính. Ông phức tạp hơn cái người ta hiểu bội phần. Thậm chí, cái sự phức tạp, nhiêu khê, rối rắm, thậm chí hỏa mù của thế giới nội tâm mình, ông cũng không tự nhận thức nổi.

Trong cuộc chiến tranh thành Troie của tư tưởng nhập cuộc, của hành động dấn thân chống lại cái tình cảm hồng hoang mù sương của tầng tháp cổ, của bóng ma trơi siêu hình, siêu tưởng, tâm hồn ông bao giờ cũng là một bãi chiến trường đầy ắp thương vong và chiến tích. Nói cho cùng, cuộc đời của một thi sĩ kể ra cũng chẳng lấy gì làm sung sướng, toàn là đau dùm và khổ mượn, lấy nỗi buồn của chim sa cá nhảy làm nỗi buồn của chính mình, dại dột cõng vòm trời trên lưng như cõng một em bé, để rồi ấm ớ luôn hồ nghi, luôn tự hỏi mình đang đi, đang sống đây hay là một đám mây, một quầng lau trắng?

Từ “Ánh sáng và phù sa” rồi qua các tập thơ lừng danh: “Hoa ngày thường – chim bào bão”, “ Đối thoại mới”, “Hái theo mùa”, “ Hoa trên đá”… và hai tập thơ di cảo, Chế Lan Viên luôn luôn phải đơn độc chống trả với thế giới siêu hình. Ghét của nào trời trao của đó, cố gắng đến cạn sức lực để chống lại cuộc chiến tranh không giới tuyến, mà đám giặc-siêu-hình kia luôn luôn “mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm”, nên Chế Lan Viên đến phút lìa đời vẫn không thoát khỏi ám ảnh siêu hình. Bởi vì, cái siêu hình kia nó không nằm ở ngoài ông, mà nó tồn tại, nó đóng tổng hành dinh trong chính tâm hồn ông, trong tốc độ vũ trụ của tư duy ông, nó bày binh bố trận trong hơi thở, trong cái nhìn bản năng ông. Cái mà trong đoạn thơ dưới đây trích trong bài thơ “Gió lật lá sen hồ” ông viết năm 1988, tức là trước khi mất một năm, ông gọi là “ai đó”. Bởi, “ai đó” cứ ném thia lia trong hồn ông:

“Gió thổi lá sen hồ lật lại phía bên kia
Phía ấy gọi anh về
Về đâu chưa biết nữa
Chỉ biết hồn anh lật lại cùng với gió
Ở trong hồn ai đó ném thia lia”
 

Ôi cái phía bên kia, cái phía gọi anh về, chắc là ông đã linh cảm được phía ấy, nhưng vì sợ nên chưa gọi thẳng tên nó ra mà thôi. Cái phía bên kia của mặt trăng, cái bên kia của thế giới có tên là cái chết. Mà cái chết với Chế Lan Viên chính là tên gọi thứ hai của cõi siêu hình. Từ bỏ cõi siêu hình trở về cõi thực, Chế Lan Viên hầu như đã phải chết đi một con người, cứ tưởng ông đã hồi sinh thành một con người khác. Ai dè, sau những cơn vui chiến thắng, sau những hò reo, những hoan hô, ca tụng, những hạnh phúc đầm đìa khóe mắt, ông lại trơ ra chỉ còn lại một mình với con mọt hư vô đang từng ngày gậm nhấm cuống phổi mình như chuột gặm. Mà suốt mấy chục năm reo cười, hò hát bản anh hùng ca thời đại hết sức tuyệt vời, hết sức chân thành, cảm động nhưng đôi khi cũng lại ngô nghê, sống sượng và vờ vịt, riết rồi cũng mệt, riết rồi cũng khản tiếng, tàn hơi. Nói cho cùng, niềm vui hầu như không có khả năng tạo ra thế giới; chỉ có tiếng cười hềnh hệch như pháo tết đâu có thể tạo ra nghệ thuật. Vâng, cuộc đời thực kia, ông đã yêu đến cạn cùng hai lá phổi, yêu như “đêm xuân người vợ trẻ yêu chồng”, yêu đến nghẹn thở, đến cuống quýt, ồn ào. Tuy nhiên, chạy một mạch mấy chục năm như con trẻ chạy theo con diều giấy, Chế Lan Viên đột ngột dừng lại suy nghĩ về cái thế giới “danh vọng ầm ào, vinh quang xí xố”! Và, nói đi rồi cũng phải nói lại mới toại lòng nhau, chẳng ai nỡ bắt bẻ một thi sĩ suốt đời cúc cung tận tụy cho lý tưởng, khi chợt một ngày nào đó trước nỗi chết, ông theo phép biện chứng mà lộn trái các sự vật:

“Xưa nghiêm túc, nghiêm trang
Giờ nửa khôn, nửa dại
Lộn lèo trong gió trái”

…“Chơi trò hề lăng nhăng
Bớt cái điều trọng đại”

…“Bắt chước đào lộn hột
Vỏ tâm hồn lộn tuốt
Bớt bớt điều kiêng khem”

(Lộn trái – 1988, ba hôm trước ngày lật trái phổi ra cắt)

Cuộc đời thì vui vẻ thế, cớ sao thời thế lại hắt hiu như một người đánh cờ với chính bản thân mình: “Để anh chơi chỉ có một mình”. Nhà thơ chợt buồn đến lặng cả người khi: “Chả hiệp sĩ nào buồn xách gươm lên ngựa / Gươm muốn làm lành cùng cối xay”. (Don Quichotte). Chế Lan Viên đã đi, đã chạy, đã bay mà không đuổi kịp chân trời: “Vọng phu tình ái, vọng phu thơ, vọng phu lý tưởng”. Bởi ông hiểu thấu cái nỗi đời trớ trêu, tưởng được đó mà mất đó, vừa thấy TẠO xong, đã HOÁ liền:

“Ai có một chân trời
Và mất gì sau đó phía chân mây?”

(Vọng phu)

Ngỡ đã tới đích của đời, ai dè đấy lại là khoảng trống vô cùng của hư vô, cái lỗ kim siêu hình mà cả đời ông chạy theo xâu chỉ hiện thực:

“Tôi như người xâu sợi chỉ vào cây kim ngay trước mặt
Chỉ đã lọt rồi, kim bỗng lùi xa
Tôi đã bước lên một bước, Kim lùi thêm một bước”

(Hồi ký bên bàn viết)

“Có lúc chỉ lọt vào rồi lại sẩy
Xâu vừa xong gió tuột nửa chừng
Lỗ kim…lỗ kim trước mắt”

(Xâu kim)

Giờ đây, ở thế giới bên kia, bằng sợi chỉ duy vật, hẳn là Chế Lan Viên đã xâu được cái lỗ kim tôn giáo, cái lỗ kim vô hình mà con lạc đà trong Kinh Thánh không thể nào chui lọt. Cái lỗ kim ấy cũng có tên là chân trời, là xa vời lý tưởng, là cõi đích thực của cái đẹp vĩnh hằng; nơi sinh thời, suốt bảy mươi năm, ông đã kéo bản thân mình ra thành sợi chỉ, lầm lũi và đăm đăm hướng tới như con chiên hướng về tín ngưỡng của mình. Nhưng chừng như tất cả đều vô vọng, tất cả còn vẫn ở đâu đâu. Phép lạ, có lẽ chỉ có khả năng xảy ra sau khi ta ngừng thở. Rốt ráo, tính nhân văn cao cả của thơ Chế Lan Viên chừng như đọng lại thành phù sa, thành ánh sáng ở chỗ này đây. Ông ví mình như con ong của thời thế, đến đây yêu xong là chết, vất vả cực nhọc, cúc cung tận tụy, tận hiến, tận trung, tận tình mà chẳng hề mang về cho mình một chút gì ngoài niềm đau, thi ca và cái chết : “Làm nên mật đạo đức / Chả hút gì ở môi”. Sinh thời, ông không hề ta thán oán trách gì, đòi hỏi mè nheo gì. Nhưng, đối với thời đại này, ông quả là một đại công thần về văn hóa. Ông đã đi hầu khắp thế giới, trừ có Mỹ châu, để làm người thuyết khách, người rao giảng của cách mạng, của cuộc kháng chiến cứu nước. Trong thời chống Mỹ, tùy bút “Những ngày nổi giận” có sức mạnh tinh thần của cả mười đạo binh. “Những bài thơ đánh giặc”… của ông có sức mạnh ngang hàng với sức mạnh của những dàn tên lửa Sam một, Sam hai. Sự đóng góp của ông thật vô cùng to lớn. Thế nhưng, ông được đãi ngộ cái gì? Ông chưa hề được cấp nhà một lần trong đời, không bao giờ có được cái điện thoại. Cho đến khi mất, ông chưa hề được những nhà xuất bản nhà nước tái bản một cuốn sách nào. Ông sống đạm bạc mà thanh cao, tự tại nơi khuất nẻo xa xôi trong góc ngoại ô phía Tân Bình. Đến nhà ông mùa mưa thì lầy lội, mùa khô thì bụi mù. Ngôi nhà của ông quá đỗi đơn sơ, chẳng có gì quý giá ngoài trang bản thảo.

Nhưng con người ông với tất cả nội lực phi thường, vẫn thung thăng đi tiếp về phía chân trời của triệu người, từ chân trời tháp cổ cô đơn của mình như lời khuyên của P. Eluard. Ông là người “ăn cây nào rào cây nấy”, chẳng như ai kia “được ăn, được nói, được gói mang đi, được hòn chì ném lại “. Thế mà có lắm người cuống cả lên, làm như Chế Lan Viên đã ăn hết lộc của thiên hạ. Ông ăn gạo nhà Chu và ông có bổn phận rào cây lúa nhà Chu. Bá Di, Thúc Tề lên rừng ăn lá ư? Nhưng rừng kia cũng vẫn của nhà Chu cơ mà? Điều đó giải thích thái độ quyết liệt, thậm chí riết róng, dữ dằn đằng đằng sát khí của ông trong hàng loạt bài tiểu luận về quan điểm nghệ thuật khi phải tranh biện, cãi vã. Và vì vậy, có khá nhiều người không ưa ông, rồi không ưa luôn cả thơ ông nữa. Nhưng ở đời, cái gì ra cái ấy, sự nghiệp thi ca đồ sộ của ông đã thành tài sản chung của dân tộc. Ông có thể vay trả, ân oán với người đời ở chỗ khác; nhưng với thơ, ông mãi mãi là cây đại thụ của thế kỷ hai mươi trong lịch sử văn học nước nhà. Có thể ông đúng. Cũng có thể ông sai. Nhưng ông có quyền bảo vệ những quan điểm chính trị của mình. Chỉ có điều thuộc về tính khí, trong tranh biện, ông là người đôi khi truy đối phương tới cùng, quyết không cho đối phương đứng lại thở. Vâng, mỗi con người đều có những khiếm khuyết để tồn tại, huống hồ ông lại là một tài năng lớn, một người tầm cỡ mang trong mình tất cả thiện ác của thời đại, tất cả nghịch lý của kiếp người, cái mâu thuẫn không sao giải quyết của số phận. Trong bài thơ “Từ thế chi ca”, ngay cả khi trăn trối mà ông còn đáo để:

“Những kẻ nguyền rủa anh sẽ buồn
Chả còn anh cho họ giết
Dao sẵn rồi họ không dễ để yên”

Chế Lan Viên, xin ông hãy yên trí làm vườn lan nhà họ Chế ở bên kia biển, bên kia trời siêu hình; bởi trên đời này, người yêu ông, kính trọng và khâm phục ông nhiều vô kể. Những người không ưa ông còn ở trong quá khứ. Nhưng ông và thơ ông đã bay về phía tương lai của con người!

Chế Lan Viên là người Mác-xít. Vâng, cả Picasso, Romain Rolland, Eluard, Aragon, Néruda…cũng đã từng là người Mác-xít ( nhưng cuối đời họ đã từ bỏ Mác-xít). Điều kiện tiên quyết để trở thành người Mác-xít là phải theo chủ nghĩa vô thần. Nhưng Chế Lan Viên lại cho rằng con người có linh hồn và khi chết rồi, linh hồn con người bất tử. Ông trăn trối lại cho vợ con sau khi ông chết, hãy đốt xác ông, lấy tro đem gởi vô chùa. Và như vậy, chết rồi ông mới đi tu, mới trở về với Phật mà khi sống ông không ngớt hồ nghi. Tôn giáo là nỗi ám ảnh khôn nguôi suốt một đời ông sống. Nhà Mác-xít Chế Lan Viên tự mâu thuẫn với nhà Phật học Chế Lan Viên. Như trên đã nói, ông tập trung mọi nghịch lý, mọi mâu thuẫn của thời đại quá nhiều tôn giáo mà thiếu đức tin này. Đúng như lời của Jiri Wolker: “Qua nhà thơ, người ta thấy tầm cỡ thời đại mà ông ta sống”. Chế Lan Viên chính là một thời đại của thi ca của lịch sử xã hội Việt Nam trong thế kỷ đầy đau thương, bi hài kịch mà đầy hùng khí, đầy mê muội hèn hạ xấu xa. Tráng ca, anh hùng ca cũng là ông, mà bi ca, khốc ca cũng lại chính là ông. Điều đó làm ta dễ hiểu khi đọc những bài thơ làm giật thót mình các phía như bài “Trừ đi” và “Bánh vẽ” ( Sẽ đọc sau bài này); thậm chí có nhà chính trị cực đoan còn bảo họ Chế thực chất là “phản động ngầm”. Phàm con người muốn biện chứng phải biết phản biện, muốn tin tưởng, cần phải học được cách nghi ngờ. Mác cũng từng khuyên người trí thức luôn phải biết nghi ngờ. Bởi vì khoa học chỉ có thể là chính nó, khi nó tồn tại trong niềm nghi hoặc của con người. Suốt một đời đi xuôi, trước lúc lìa đời, con người cần phải đi vài bước ngược lại, quay lại một chút mà ngẫm nghĩ, mà suy tưởng về thân phận mình. Vì vậy, chúng ta càng yêu ông hơn vì cái nỗi đau đời, cái nỗi buồn tủi, cái niềm biết thân, biết phận của mình rất chi là người, là trần gian, rơm rác, bụi bặm, đời thường :

“Anh đẽo tâm hồn thành con rối để yêu em
Anh hoá gỗ, hoá dây, hoá dại khờ, ngũ sắc
Tuồng tích ấy chú rối mình đủ khóc
Cần chi bàn tay nào đến giật giật dây thêm

Anh rối nước muốn lên bờ cùng rối cạn
Em đi xa, ao thương nhớ hoá đầy

… Anh đứng giữa lệ mình trơ trơ không dám khóc
Vui nỗi gì khán giả vỗ ran tay?”

(Rối cạn và rối nước)

Bài thơ làm nhức nhối người đọc, huống hồ là người viết ra nó phải đau, phải nhân tình thế thái biết là chừng nào. Nói về mình khi chưa gặp cách mạng, Chế Lan Viên viết: “Lòng ta thành con rối / Cho cuộc đời giật dây”. Ngày đó ông mới vừa hai mươi lăm tuổi, sân khấu đời ông đã kịp diễn gì đâu? Con rối ấy hoạ có chăng là rối siêu hình? Còn giờ đây, con rối nước xưa đã bò lồm ngồm lên cạn như ếch nhái, để lại diễn đủ trò như con rối cách mạng cho thiên hạ vỗ tay. Còn mình thì vẫn rối như sợi chỉ hiện thực trước lỗ kim vô cùng?

Càng gần tới cái chết, thơ ông viết càng hay, càng bớt chất luận đề, chính luận, càng thêm cảm xúc và sâu đọng. Hầu hết các nhà thơ mới, kể cả Xuân Diệu, Huy Cận, cái phần thơ hay nhất, đóng góp lớn nhất cho thi đàn lại là những thi phẩm ra đời trước năm 1945. Chỉ có Chế Lan Viên và phần nào Tế Hanh, mà những trước tác sau này thậm chí còn đồ sộ, còn hay hơn nhiều thời tiền chiến. Sau Thơ Mới, ông đã làm cho Thơ Mới được mới thêm một lần nữa. Đấy chính là sự đóng góp có tính tiền phong, tính mở đường của thơ Chế Lan Viên cho thời đại thi ca mới. Chính ông mới là nhà thơ hiện đại đúng nghĩa nhất của nó.

“Lòng ta mục đồng / Cũng đi chăn đấy”… … “Tôi chỉ là nhà thơ cưỡi trâu”. Do đó, đôi khi thi ca cũng cần được tung tăng hồn nhiên như con nghé ọ. Nhà thơ không cưa sừng làm nghé, vì tâm hồn ông đã được thả rông trên đời này để có lúc vừa ăn cỏ của đời sống, vừa uống nước sông Ngưu siêu hình của trời xanh:

“Con trâu nghé ọ
Có cặp sừng bỡ ngỡ
Chiều buồn không biết cọ vào đâu”
(Cờ lau Đinh Bộ Lĩnh -1988)

Câu thơ viết như chơi, viết như đùa, như không mà hay đến nghi hoặc. Yêu biết bao nhiêu cái cặp sừng non bỡ ngỡ của thi ca. Này con nghé ọ, mi đang cọ sừng vào cõi hư vô mà chẳng biết. Nhà thơ bảy mươi tuổi nhưng thi ca của ông sinh ra muôn đời phải là con trẻ, phải là con nghé ọ của đời. Con nghé thơ sẽ lớn thành con trâu kéo cày trên cánh đồng văn học. Và, trâu thơ ơi, sau khi người chết đi, người đời sẽ mượn da người làm trống, để đánh lên nhịp nhảy, nhịp sống của con người. Và trâu thơ ơi, xin mi để lại cặp sừng làm chiếc tù và báo động. Đi từ cặp sừng non của con nghé đến chiếc tù và của con trâu, Chế Lan Viên vẫn tiếp tục cất lên tiếng trống, tiếng tù và, báo hiệu một ngày mới trên cánh đồng vĩnh cửu c a thi ca…

Thành phố Hồ Chí Minh 3 giờ sáng 22/5/1994

 

XIN ĐỌC THÊM HAI BÀI THƠ TRONG DI CẢO THƠ CHẾ LAN VIÊN

 Trừ đi

Chế Lan Viên

 


Sau này anh đọc thơ tôi nên nhớ
Có phải tôi viết đâu! Một nửa
Cái cần đưa vào thơ, tôi đã giết rồi
Giết một tiếng đau – giết một tiếng cười
Giết một kỷ niệm – giết một ước mơ – tôi giết
Cái cánh sắp bay – trước khi tôi viết
Tôi giết bão ngoài khơi cho được yên ổn trên bờ
Và giết luôn mặt trời lên trên biển – Giết mưa
Và giết cả cỏ trong mưa luôn thể
Cho nên câu thơ tôi gầy còm như thế
Tôi viết bằng xương thôi, không có thịt của mình
Và thơ này rơi đến tay anh
Anh bảo đấy là tôi.
Không phải!
Nhưng cũng chính là tôi – Người có lỗi
Đã phải giết đi bao nhiêu cái
Có khi không có tội như mình
(Tạp chí Văn, Paris 1992)

Bánh vẽ

Chế Lan Viên

 


Chưa cần cầm lên nếm, anh đã biết là bánh vẽ
Thế nhưng anh vẫn ngồi vào bàn cùng bè bạn
Cầm lên nhấm nháp
Chả là nếu anh từ chối
Chúng sẽ bảo anh phá rối
Đêm vui
Bảo anh không còn có khả năng nhai
Và đưa anh từ nay ra khỏi tiệc…
Thế thì còn dịp đâu nhai thứ thiệt?
Rốt cuộc anh lại ngồi vào bàn
Như không có gì xảy ra hết
Và những người khác thấy anh ngồi
Họ cũng ngồi thôi
Nhai nhồm nhoàm
(Prométheé 86, Văn học và Dư luận, 8-1991)

 CHẾ LAN VIÊN VÀ BA NIỀM SỬNG SỐT

 

Trần Mạnh Hảo

Mới mười lăm, mười sáu tuổi đầu, tâm hồn cậu thiếu niên Chế Lan Viên kỳ lạ thay, đã bằng tuổi Tháp Chàm. Hay chính là hồn vía Tháp Chàm miền Trung đã nhập vào thân xác nhà thơ từ thuở lọt lòng, mượn chú hài đồng họ Phan mà oa oa cất tiếng khóc nghìn năm ứ nghẹn tự muôn trùng gạch đá?

Sau này, lớn lên, đi học tại Quy Nhơn, Chế Lan Viên lại bị vây bủa bởi những Tháp Chàm cô độc, như những cánh tay hư vô đột ngột giơ lên xin phát biểu ý kiến với trời xanh. Những Tháp Chàm bí mật, câm nín mấy trăm năm chợt hu hu khóc nấc, chợt hú rít lên, rên la lên, chợt rúc lên u u ơ ơ tiếng tù và địa phủ bằng vần điệu, bằng thi ca “Điêu tàn”, như tiếng phát ngôn của dân Hời vạn thuở. Tập thơ được viết xong lúc tác giả mười sáu tuổi, ra mắt làng thơ năm 1937. “Điêu tàn” như một hiện tượng kỳ vĩ, ngay lập tức làm sửng sốt thi đàn Việt Nam, “như một niềm kinh dị” theo chữ của Hoài Thanh. Không sửng sốt, không kinh dị sao được khi một cậu thiếu niên dáng vẻ hiền lành, bỗng học được phép chui vào quan tài của nỗi hư vô, dùng thi ca tỏ tình với cái chết.

Chế Lan Viên dẫn đầu một phái đoàn ma, kéo vào thi đàn Việt Nam như cô hồn thập loại chúng sinh của Nguyễn Du xưa kéo về rằm tháng bảy: “Muôn ma Hời sờ soạng dắt nhau đi” (Trên đường về). Ông ước: “Hãy cho tôi một tinh cầu giá lạnh / Một vì sao trơ trọi cuối trời xa” (Những sợi tơ lòng). Tinh cầu ấy, vì sao ấy, với Chế Lan Viên chính là chiếc sọ người. Chiếc sọ người – biểu tượng hóa niềm siêu hình thăm thẳm, bao hàm ba trạng thái: cô đơn – cái chết – hư vô từng thách đố triết học và tôn giáo giáo. Chế Lan Viên dùng thi ca giải mã chiếc sọ người mong tìm tôn giáo và triết học, tìm bí mật phía bên kia tồn tại, như tìm nỗi không đâu vơ vẩn kiếp người. Với “Điêu tàn” bầu trời kia cũng mang hình hộp sọ. Tinh cầu – sọ người bay lơ lửng trong không gian Chế Lan Viên, như một thứ hạt giống thi ca gieo vãi hư vô lên từng trang giấy. Đến nỗi nhà thơ muốn cắn chiếc sọ người vỡ tan như cắn hạt bồ đào: ” Ta muốn cắn mi ra từng mảnh nhỏ / Muốn điên cuồng nuốt cả khối xương khô” (Cái sọ người). Hãy nghe Chế Lan Viên nói về công việc trước tác của mình: “Nền giấy trắng như xương trong bãi chém / Bỗng run lên kinh hãi dưới tay điên / Tiếng bút đưa rợn mình như tiếng kiếm / Nạo những thành sọ trắng của ma thiêng” (Tiết trinh). “Điêu tàn” mang âm hưởng sọ người cọ nhau ken két, như cái chết cũng biết nghiến răng.

Trong lời tựa “Điêu tàn”, Chế Lan Viên viết: “Hàn Mặc Tử nói: Làm thơ tức là điên. Tôi thêm: Làm thơ là làm sự phi thường. Thi sĩ không phải người. Nó là Người Mơ, Người Say, Người Điên. Nó là Tiên, là Ma, là Quỷ, là Tinh, là Yêu. Nó thoát hiện tại… Nó gào, nó thét, nó khóc, nó cười. Cái gì của nó cũng tột cùng. Nó gào vỡ sọ, nó thét đứt hầu, nó khóc trào máu mắt, nó cười tràn ra cả tủy là tủy. Thế mà có người tự cho là hiểu được nó rồi đem nó so sánh với Người…”. Có thể nói đây là tuyên ngôn của trường thơ “Loạn” bấy giờ. Một số yếu tố trong tuyên ngôn trên còn ứng với Chế Lan Viên suốt đời ví như mệnh đề “Cái gì của nó cũng tột cùng”. Chịu ảnh hưởng thi pháp Beaudelaire và  Edgar Poe, cộng với siêu hình tôn giáo và thơ Đường, nhà thơ đã làm nên Tháp Chàm “Điêu tàn” hay đến kinh hãi. Những tuyên ngôn thơ trên của Chế Lan Viên, phải chăng là sự mô phỏng Beaudelaire – kẻ gây sốc, “nhà thơ bị nguyền rủa” (le poète maudit), loài “Ác hoa” dị thường, mở đầu trào lưu thơ hiện đại Pháp bằng cách phá bỏ mỹ học hài hòa cổ điển Apollon, nghiêng về mỹ học phản hài hòa, xộc xệch, rách rưới, mê sảng Dionisos, mở ra một thế giới thi ca phi thường, rùng rợn, cuồng điên với tuyệt đỉnh đàn bà, hư vô và cái chết. Lấy màu vàng sắc không nhà Phật nhuộm lên thi pháp Beaudelaire, kết hợp linh diệu Christ, sắc không nhà Phật và niềm hư ảo Ấn Độ giáo Tháp Chàm, Chế Lan Viên muốn đập vỡ sọ ma Hời tìm hư vô, tìm cái vô cùng, vô hạn. Nhưng ông đã không tìm thấy gì ngoài nỗi cô đơn co rút lại nơi hồn mình, như loài chim cú siêu hình chui vào ruột đêm lẩn trốn. Nhà ma học Chế Lan Viên tu với ma, sống với ma ngay từ tấm bé, mong tìm kiếm bản thể trầm luân mình, như nhà triết học Hy Lạp Diogène thế kỷ thứ IV trước công nguyên đốt đèn đi tìm một người hư ảnh giữa ban ngày. “Điêu tàn” tập thơ mê sảng nhất của văn học Việt Nam, biểu hiện thiên tài kỳ lạ Chế Lan Viên, là niềm sửng sốt, là cú sốc của mỹ học cái chết độc nhất vô nhị vậy.

Cách Mạng Tháng Tám vĩ đại 1945 đã cuốn mọi trào lưu tư tưởng, mọi trường phái văn chương vào đứng dưới bóng cờ đỏ sao vàng. Chế Lan Viên phải làm một lúc hai cuộc kháng chiến : chống Pháp và chống con ma Hời siêu hình từng ám hồn ông. Cuộc chia tay giữa Chế Lan Viên với con ma xó cô đơn thật quyết liệt, đớn đau, quằn quại, rớm máu suốt 15 năm, bằng với số năm lưu lạc của Thúy Kiều. Tư tưởng nhà thơ đã đi về phía con người, về phía nhân dân, phía kháng chiến, nhưng tâm hồn ông còn bị ma Hời đeo bám, cứ thập thò như cua cáy giành giật những giấc mơ, những suy tưởng trong ông. Cuộc chiến đấu giữa chàng Faust-Chế Lan Viên với con quỷ siêu hình để giành lại quyền sở hữu linh hồn mình trong thi ca là cả một chặng đường thương khó. Cây thập tự tôn giáo đè lên đôi vai tinh thần nhà thơ nặng nề hơn một số phận, hệt như nó là một phần cơ thể khổ đau ông phải mang theo trong câm nín. Nhưng Con Người trong ông đã tuyên chiến, đã mở giao thông hào đánh lấn, giành từng tấc đất tâm hồn lại từ phía lô cốt hư vô. Và cuối cùng, con ma siêu hình đã bỏ chạy, đã hoảng loạn thoát ra từ chính những vết thương tâm hồn nhà thơ. Cuộc giằng xé, vật lộn giữa ma hời với con người suốt 15 năm đã thai nghén, sinh nở ra thi phẩm “Ánh sáng phù sa” năm 1960 thật kỳ diệu, như thể sau khi bị đóng đinh trên câu rút siêu hình, nhà thơ đã phục sinh.( Thi phẩm này của Chế Lan Viên vẫn còn khoảng bảy đến tám bài thơ chính trị dung tục thô thiển, ví như bài “ Ngô tổng thống trong dinh thuốc độc” làm giảm giá trị tập thơ)

Vâng, “Ánh sáng và Phù sa” quả là một Chế Lan Viên khác hẳn với Chế Lan Viên “Điêu tàn”, một thi pháp khác, một phong cách khác, một thể xác khác,một linh hồn khác, một ngôn ngữ khác, mỹ học khác, một khổ đau khổ và hạnh phúc khác. “Ánh sáng và phù sa” ” lập tức trở thành hiện tượng văn học kinh động thời ấy, một niềm sửng sốt thứ hai Chế Lan Viên mang lại cho thi đàn Việt Nam. Qua dằn vặt, chiêm nghiệm bản thân, với chút ảnh hưởng từ các nhà thơ  Eluard, Aragon, Neruda, Ritsos, Hitmet…, Chế Lan Viên đã làm cho Thơ Mới mới thêm một lần nữa kể cả nội dung và hình thức, kể cả cảm thức sáng tạo và  thi pháp. Nhà thơ nới rộng không gian Thơ Mới từ tháp ngà nghệ thuật ra giữa vòm trời Nhân Dân, Tổ  Quốc, cùng với thế hệ các nhà thơ chống Pháp, đưa thơ từ cặp mắt mỹ nhân, từ nỗi buồn son phấn, rong rêu xuống với đám đông, với bùn đất, với mồ hôi, nước mắt và máu xương cuộc đời thường: “Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ / Cỏ đón giêng hai chim én gặp mùa / Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa / Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa” (Tiếng hát con tàu). Xưa nhà thơ trầm mình trong cái chết, trong hư vô sọ người, thì nay ông được tái sinh trong ròng ròng sự sống, trong thực tại nụ cười và nước mắt, trong sự hòa điệu với triệu người: “Tôi yêu quá cuộc đời như con đẻ / Như đêm xuân người vợ trẻ yêu chồng”…”Tâm hồn tôi khi Tổ Quốc soi vào / Thấy ngàn núi trăm sông diễm lệ” (Chim lượn trăm vòng). Nếu không có Cách Mạng Tháng Tám chắc Chế Lan Viên vẫn còn phải núp vào Chiêm Thành mà khóc than nỗi vong quốc xa xưa, vẫn còn tha thẩn ngoài bãi tha ma vong thân trên chính quê hương mình, sống trong vay mượn kể cả nỗi đầu rơi máu chảy, vay mượn cả thân phận mất nước. Đến Tổ Quốc mình ông cũng không dám gọi tên lên, không dám thốt lên lời sông Hồng, sông Mã, không dám gọi Trường Sơn lên mà hùng vĩ hồn mình. Phải chăng đây chính là ý nghĩa cứu chuộc, ý nghĩa nhân văn cao cả nhất mà Cách Mạng Tháng Tám mang lại cho không chỉ Chế Lan Viên? Vì vậy, nhà thơ lúc nào cũng rưng rưng nhớ ơn sự tái sinh của Cách Mạng, rơm rớm chạnh niềm đau cũ: “Thuở nước mất nằm mơ còn thấy khóc / Nỗi đau đón đường cướp hết vàng ta” (Nỗi đau ngày cũ). Mỹ học “Ánh sáng phù sa” là mỹ học đớn đau, mỹ học của hạt nảy mầm phải tự chết bản thể hạt đi để tái sinh một đời sống mầm, bản thể mầm thi tứ. Nhà thơ đã về lại sông Ngô siêu hình xưa để lấy lại vàng tâm hồn mình, lấy lại nước mắt hư vô xưa chợt hóa ngọc trai tư tưởng bây giờ: “Xưa ở sông Ngô ta đánh mất vàng / Đánh mất tâm hồn ta. Nhưng hiện tại / Như sông Tương đã trả vàng ta lại / Khắp đôi bờ tư tưởng chói hào quang” (Vàng của lòng tin). Từ “Ánh sáng phù sa”, Chế Lan Viên nhân lên hàng chục tập thơ kỳ vĩ khác mà nghệ thuật thi ca đã đạt tới mức toàn bích của sự kết hợp hài hòa giữa phù sa của cảm xúc và phù sa tâm hồn, ánh sáng của trí tuệ. Ông có công làm thi ca Việt Nam nồng cháy hơn, mê cuồng hơn, trí tuệ hơn, sang trọng và quý phái hơn. Quả thực, “Ánh sáng và phù sa”  là niềm sửng sốt thứ hai, là đỉnh thứ hai Chế Lan Viên vậy.

Một con người 69 tuổi đã để lại hai lần trong đời mình hai sự kiện có tính chất cột mốc: “Điêu tàn” năm 1937, “Ánh sáng và phù sa” năm 1960, hai lần làm sửng sốt thi đàn, trưng ra hai ông Chế Lan Viên khác nhau như nước với lửa, như hai đỉnh thi ca ngược nhau: một đỉnh âm siêu hình lộn ngược xuống đất và một đỉnh cao hiện thực vút lên trời, tưởng đến thế đã vĩ đại lắm, đã thiên tài lắm. Không dè, Chế Lan Viên sau khi chết đi vẫn còn làm kinh dị, làm sửng sốt nền thơ lần thứ ba, quá tam ba bận, bằng ba tập “Di cảo thơ I , II và  III” khổng lồ ngoài sức tưởng tượng. Đỉnh thơ thứ ba hậu Chế Lan Viên này là đỉnh sâu, đỉnh lộn trái tâm hồn thi hào ra chiều thứ tư của không gian thơ: “Bắt chước đào lộn hột / Vỏ tâm hồn lộn tuốt / Bớt bớt điều kiêng khem” (Lộn trái). Quá trình lộn trái sự vật, lộn trái tâm hồn và tư tưởng, có khi lộn trái cả sự lộn trái, phản biện cả sự phản biện không chỉ là phẩm chất của nhà tư tưởng, mà còn của chính nhà thơ. Hơn nữa, Chế Lan Viên lại là nhà triết học của thi ca, lấy thi ca để làm mềm mại và dịu dàng lại hòn đá tảng triết học, như quá trình tâm hồn hóa tư tưởng, cảm xúc hóa tư duy. Từ bỏ Ma thuở “Điêu tàn” để đi theo Người nơi “Ánh sáng và phù sa”, cuối đời, nhất là trước lúc chết vài ba năm, Chế Lan Viên rút vào Viên Tĩnh Viên tạm xa lánh Người để tự theo Mình, để học theo phương pháp bất tử của loài rắn, thử lột xác tâm hồn mình, lột xác cả niềm tin và sự hoài nghi mà Marx cho là phẩm chất đẹp nhất của người trí thức, lột xác cả sự lột xác, Anti cả cái Anti. Trong bài “Tự tìm mình” viết năm 1997, nhà thơ vừa tìm Mình, vừa hoài nghi Mình: “Có một kẻ vô tình trong gió nó là ai kia / Có một kẻ hữu hình trong mùi hương, đấy là anh , chẳng lẽ / Có một cái gì đâu đó / Anh tìm anh thử hỏi làm gì / Tìm phiên bản nào rồi anh cũng đốt đi”. Đúng là Chế Lan Viên “Cái gì…cũng tột cùng”, tột cùng Chết, tột cùng Sống, tột cùng chính trị, tột cùng hư vô, tột cùng đánh giặc, tột cùng hoài nghi bản thân mình, như suốt đời ông mải tìm chiều thứ tư của tồn-tại-tôi, chiều thứ tư của cá nhân – thời gian – tôi, như bài “…Và chiều thứ tư” ông viết năm 1997: “Cái individu anh có ba chiều không gian, một chiều nước chảy / Tất cả những gì mất đi là mất đi trong chiều ấy / Đừng nghe, đừng nghe, đừng nhìn, đừng nhìn, đừng hỏi, đừng hỏi / Cái chiều hư huyễn ấy / Nó mới thật là anh đấy: thời gian”.

Nền thơ Việt Nam tự hào vì có Chế Lan Viên, một mình mở rộng thơ ra tất cả các đề tài, từ sao trời đến con đom đóm, từ con người đến con ma, như quá trình lửa – phản Prométhée – trong bài “Prométhée” viết năm 1987: “…Phát minh ra tro phản lửa của mình …/ Phải có tro thì mới có ngày ngọn lửa hồi sinh / Có tro tàn vải liệm / Phủ lên những gì đã cháy, những hoàng hôn và c những bình minh”. Thảo nào, trước khi Chết, Chế Lan Viên di chúc lại hãy đốt xác ông thành tro bỏ vô chùa: “Tro bao giờ cũng tồn tại lâu hơn lửa / Lửa hoan lạc một giây, tro cay đắng một mùa / Anh thiêu tất cả quá khứ thành tro là thơ đấy / Và thiêu hồn anh sau này không là lửa, lại là tro” (Tro và lửa -1988). “Di cảo Thơ” chính là quá trình tro hóa ngọn lửa thi ca một đời thiêu cháy Chế Lan Viên.

Chế Lan Viên – thiên tài đầy mâu thuẫn: vừa là lửa vừa là nước, vừa mê Phật, vừa tôn sùng Chúa, vừa say Cách Mạng và rồi nghi ngờ Cách Mạng. Ông tự xẻ mình ra làm hai mảnh thực tại và siêu hình, vừa theo gót Dante đạt tới ba cõi: địa ngục, luyện tội, thiên đàng, vừa theo Goethe phiêu du tìm niềm vui cõi Người-thực-tại – Faust. Rốt ráo tinh thần “Di cảo thơ” chừng như giấu cả trong bài tứ tuyệt “Tháp Bay-on bốn mặt” này đây: “Anh là tháp Bayon bốn mặt / Giấu đi ba còn lại đấy là anh / Chỉ mặt đó mà nghìn trò cười khóc / Làm đau ba mặt kia trong cõi ẩn hình”. Ba chặng đường thơ quá sức đồ sộ làm sửng sốt thi đàn của Chế Lan Viên đi từ Ma qua Người đến Mình, rồi trước khi chết dường như ông lại lộn về đối thoại với Ma xưa? Phải chăng hành trình khổ đau sinh nở kia chỉ mới là gương mặt Thi Ca nhìn thấy của một Brahma-Sáng tạo Chế Lan Viên? Còn ba gương mặt Brahma siêu hình khác ông phải đau đớn chôn cất trong hồn, nén chúng vào bản thể như nén cà nén dưa, tự giấu hư vô mình đi mà tồn tại, giấu đi cả Siva hủy diệt và Vishnu bảo tồn; như giờ đây Chế Lan Viên hằng sống bằng cách tự giấu mình trong bình tro bé như bình mực của cái chết tại tháp chùa Vĩnh Nghiêm, đặng bất tử trên Niết Bàn Thi Ca cùng với Nguyễn Trãi, Nguyễn Du vậy.

 

 

About these ads

145 thoughts on “THỬ LÝ GIẢI HIỆN TƯỢNG THƠ CHẾ LAN VIÊN

  1. nhi

    thơ của chế lan viên đậm chất triết lý tập thơ điêu tàn của ông là tác phẩm mà tôi rất thích đó là thế giới của sọ người của ma quỷ lạnh cả xương sống rùng rợn đến kinh hoàng

    1. joe

      Nguyễn Mạnh Hùng – Trái phiếu Việt Nam: Tin vui? Tin buồn?
      07/02/2010 | 6:36 sáng | Chưa có phản hồi.

      Tác giả: Nguyễn Mạnh Hùng

      Chuyên mục: Kinh tế – Môi trường
      Thẻ: Trái phiếu

      Mới đây thôi, Việt Nam bán 1 tỉ đô trái phiếu, giới tài chính phương Tây mua ào ào, thoáng là hết. Thành công, thành công, đại thành công! Phải chăng “thế giới” tin vào khả năng phục hồi và phát triển kinh tế Việt Nam ở trung và dài hạn, chuyện chỉ khả thi với một quốc gia ổn định về mặt chính trị, điều kiện đẩy sự cất cánh (take-off) một nền kinh tế còn non yếu ở ngưỡng cửa hiện đại hóa?

      Chưa chắc, và đi vay được không hẳn là điều phấn khởi theo kiểu lạc quan tếu.

      Từ góc độ kinh tế học, ở mức nhập môn, học sinh sinh viên đều biết những người cho vay – chủ nợ – phải tính đến khả năng chi trả lợi nhuận và hoàn vốn của người đi vay – con nợ – và thường là đòi bù vào tỉ số lợi nhuận bình thường (hiệu suất của đầu tư trung bình) cái giá của độ rủi ro (risk premium). Với Việt Nam, lợi suất là 6,95% trong khi cùng thời điểm, tỉ số này là 6% với Indonesia và 5,67% với Philippines. Thế thì tại sao độ rủi ro ở Việt Nam cao hơn những quốc gia vừa kể?

      Rủi ro chính trị? Ở ngắn hạn, chắc có, nhưng không trầm trọng, ai bất đồng chính kiến thì bỏ tù làm gương. Lề phải, ai ơi phải giữ lấy “lề”!
      Rủi ro kinh tế? Có, và khá nhiều:
      1- Con nợ đi vay vì dự trữ ngoại tệ thấp (15 tỉ đô?), cần vốn để làm ăn sản xuất. Chỉ trả 6,95%, hiệu suất thực sự phải ít nhất là bằng thế, cộng thêm vào độ lạm phát (5-7%), tức bình quân sử dụng tiền vay phải làm lời ở mức 12-14%. Trên thế giới, lợi nhuận thực sự (real) bình thường chỉ độ 3-5%, và hiệu suất danh nghĩa (nominal) khoảng 5-7%. Chủ nợ cho Việt Nam vay hẳn ước lượng độ rủi ro cần bù bằng 2-4%. Thanh khoản chi trả của con nợ khả thi với điều kiện sản xuất ở Việt Nam đạt được hiệu suất danh nghĩa ít là 12%, và nhiều, có thể hơn 14%. Con số này quá lớn, độ khả thi tùy thuộc vào việc sử dụng tiền nợ vào khâu, ngành sản xuất nào.

      2- Rót tiền, theo lời Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Xuân Hà (báo Tuổi Trẻ ngày 1/2/2010), vào Dung Quất, một nhà máy phải đóng cửa ngưng hoạt động vì…phải bảo quản thiết bị (sic!)? Theo tin Dow Jones, Ngân hàng Trung ương Việt Nam mới đây cho biết là món tiền vay sẽ được dùng để hỗ trợ cho các công ty như PetroVietnam, Vinashin, tập đoàn Sông Đà… Xin dẫn lời Kinh tế gia Vũ Quang Việt (phỏng vấn RFA, 2/2/2010):

      “…Tôi nghĩ chính phủ Việt Nam đi vay, nên sẽ đưa cho các công ty quốc doanh sử dụng để đầu tư.

      Thường lãi cho các công ty quốc doanh rất thấp; ví dụ như Vinashin và một số khác lãi độ chừng 1-2% so với mức lạm phát rất lớn. Đó chưa kể trong thực tế những công ty quốc doanh đó làm ăn lỗ. Tại Việt Nam, hiện một số công ty quốc doanh gặp khó khăn cực kỳ.

      Đặc biệt trường hợp Vinsahin. Trước đây Việt Nam vay 750 triệu đô la cho công ty này. Công ty này đầu tư ra hằng trăm công ty con khác. Những công ty con này thường là những công ty gia đình-tư nhân, với một phần vốn Nhà nước vào có nhiều quyền lợi về vốn, đất đai được cấp hay thuê rẻ… tạo ra một hệ thống quan chức hoặc người thân thuộc được hưởng những quyền lợi như thế. Như vậy họ càng mở rộng càng tốt cho họ.

      Theo tôi nghĩ, chính phủ Việt Nam đi mượn tiền cho loại những công ty như Vinashin, những doanh nghiệp và tập đoàn tương tự như vậy.”

      Nếu nhận định trên thành thực tế, tiền con nợ vay sẽ vung vãi, sản xuất trong nước không thể đủ để trả lợi nhuận món nợ mới 1 tỉ đô này, chứ chưa nói đến vốn. Những vị có trách nhiệm nói Việt Nam nợ khoảng 30% GDP, vẫn ở mức an toàn (?). Nhưng đây là nợ nước ngoài. Nếu tính cho đầy đủ, nợ nội địa, tức Nhà nước nợ những người trong nước, phải cao hơn thế. Hiện mức nợ tổng cộng gọi là chấp nhận được trên thế giới khoảng 30-40% GDP, và nợ ở Việt Nam khó có thể cho là “an toàn” được!

      3- Tuy nhiên, giới đầu tư Mỹ cho vay 560 triệu, Á Châu (chắc “người lạ”) cho vay 280 triệu, còn lại là giới đầu tư Âu Châu. Lại trích lời ông Trần Xuân Hà (Tuổi Trẻ, bđd):

      “Các nhà đầu tư cực kỳ quan tâm đến dự trữ ngoại hối, cán cân thanh toán quốc tế, nợ quốc gia, chính sách tiền tệ, trong đó có cả chính sách tỉ giá hối đoái, lãi suất, biến động lạm phát trong năm 2009 và chính sách của Việt Nam…

      Các câu hỏi của các nhà đầu tư với chúng tôi đều xoay quanh chuyện này. Định mức tín nhiệm của Việt Nam là kết quả đánh giá của các tổ chức. Họ dựa trên nhiều phương diện, đánh giá cao tăng trưởng, ổn định chính trị, quyết tâm cải cách, nợ chính phủ ở mức an toàn của Việt Nam… Nhưng họ cũng đánh giá cán cân thanh toán ta nhập siêu nhiều, cải cách hệ thống ngân hàng và lạm phát… chưa tốt.”

      Đánh giá cao nhưng những nhà đầu tư này đều đòi bì rủi ro như nói trên có nghĩa là họ vẫn lo. Lo gì? Như lời vừa trích, họ lo a) ngân sách Nhà nước thâm thủng; b) cán cân nhập siêu (tức sản xuất để bán ra ngoài thấp so với nhập khẩu) ở mức trầm trọng; c) nguy cơ lạm phát lớn… Đấy là họ chưa nói (hay ông Thứ trưởng lơ đi) đến hiệu suất các công ty nhà nước rất thấp, lại có khả năng “điều vốn” của cả nước rất ghê, kể cả tiền vừa vay qua phát hành trái phiếu 1 tỉ đô. Và từ đó, tương lai vỡ nợ của Việt Nam là có thực.

      Vỡ nợ thì sao? Con cháu đời sau trả, xá gì! Đến đây, tôi chợt nhớ “giải pháp” Phi Lạc của ông Hồ Hữu Tường là quịt nợ. Cũng kiểu Chí Phèo, nhưng không rạch mà trơ mặt ngất ngưởng, mày làm gì được ông nào! Thưa, dễ thôi, gán bằng cái sơn hà ấy, thời nay toàn cầu hóa mất rồi, quịt khó lắm. Còn câu “quốc phá, sơn hà tại”. Không, trăm lần không, ngàn lần không! Núi và sông (nhất là Biển Đông) mang gán nợ thì làm gì mà “sơn hà tại” được. Cái còn, là những trương mục ngân hàng ở Thụy Sĩ, Bahama…mang những con số mật mà chỉ một số (rất nhỏ) người biết. Sơn hà bất toại, trương mục thì vạn, vạn tuế sao?

      4/02/2010, sau một đêm không ngủ nổi

      © 2010 GSTS Nguyễn Mạnh Hùng

  2. htt

    Không thiên tài, nhưng tìm người hơn ông e cũng đỏ con mắt !
    Còn Trần ư, tuy có nhiều điều khó hiểu nhưng tìm được người như y cũng đỏ con mắt còn lại.
    Tư duy sàn sàn bằng nhau, không có đỉnh cao, mới là tư duy bầy đàn thứ thiệt.

  3. Paul

    Điên mới khen Chế thiên tài ha ha ha. Các cụ thử đưa ra một câu để đời của Chế cháu nghe coi? Một câu thôi.

    Còn Trần thuộc đẳng cấp gì thì hẳn các cụ cũng chẳng lạ.

    Bầy đàn wá. Bầy đàn wá.

    1. Thảo Dân

      Chào Thánh Sant Paul trên cao nhìn xuống
      Hai chữ Bầy đàn, pau hóa páu thành cháu em beo.
      Hu hu…

  4. Nguyễn Công

    Tôi rất thích đọc những bài viết của nhà thơ Trần Mạnh Hảo, bất kể thơ, phê bình hay bài báo. Rất tiếc, thời gian gần đây anh công bố ít quá. Những bài phê bình của TMH rất bổ ích và hấp dẫn vì phê bình mà rất có văn, có thể đọc được một mạch (trong khi đó truyện ngắn trên Văn Nghệ những năm gần đây mỗi lần đọc phải “hạ quyết tâm” lắmmới đọc được (hình như chữ của Phạm Toàn). Hơn nữa, TMH lại dám “nói toẹt ra”, không cần úp mở, đối với anh cái tiêu chí quan trọng nhất là tài năng, là thơ hay đích thực. Tôii thấy đó là một phẩm chất đáng quý nữa của anh mà hiện nay trong làng phê bình không ai làm được. Kính chúc nhà thơ mạnh khỏe, hãy tin rằng, có rất nhiều bạn đọc đang thầm yêu mến anh, chờ đợi những bài viết của anh.

  5. mrxuanloc

    1 “Chế Lan Viên là một thiên tài. Mà tất cả các thiên tài đều tự mâu thuẫn, nhiều giằng xé không sao giải quyết. Trong ông, con sư tử và con nai ở chung với nhau, mèo phải hội họp với chuột, cái ác và cái thiện là một cặp bài trùng chuyên môn cãi lộn nhau, sự thuỷ chung và sự phản bội phải làm phép hôn phối trước vị linh mục có tên là nhân tính. Ông phức tạp hơn cái người ta hiểu bội phần. Thậm chí, cái sự phức tạp, nhiêu khê, rối rắm, thậm chí hỏa mù của thế giới nội tâm mình, ông cũng không tự nhận thức nổi”.Trần Mạnh Hảo

    2 .Chỉ với một tập thơ “Điêu tàn”, ba tập di cảo đồ sộ và một cuộc đời “chưa hề được cấp nhà một lần trong đời, không bao giờ có được cái điện thoại. Cho đến khi mất, ông chưa hề được những nhà xuất bản nhà nước tái bản một cuốn sách nào. Ông sống đạm bạc mà thanh cao, tự tại nơi khuất nẻo xa xôi trong góc ngoại ô phía Tân Bình.”. Chỉ ngần ấy thôi, cũng đủ để chúng ta trân quý Chế Lan Viên, thương cảm Chế Lan Viên, ngưỡng mộ Chế Lan Viên.
    Chắc giờ này ở cõi vĩnh hằng, Chế Lan Viên cũng mỉm cươi vì mình đã phản tỉnh sáng mắt sáng lòng, không chỉ cho riêng mình mà cho biết bao người đời nữa!
    -Người làng Cốm
    XL muốn xin phép hai bác bổ sung ý kiến của riêng mình:
    -Không phải chỉ là thiên tài Chế Lan Viên,Gớt…mà có lẽ tất thảy những nhà thơ đúng nghĩa đều tự mâu thuẫn và giằng xé,hạnh phúc và đau khổ…nếu không thì có lẽ chẳng bao giờ trở thành nhà thơ,và nhân loại sẽ chẳng có những bài thơ bất hủ.Kẻ tài ba thì đã luôn mang sẵn bên mình mệnh bạc rồi .
    -Đáng buồn là Chế Lan Viên đã phản tĩnh,sáng mắt sáng lòng mấy chục năm rồi mà đã có được bao nhiêu người đang sống kịp phản tĩnh ? đang mê cả đó thôi.
    Liệu họ Chế đã có thể mĩm cười nơi cõi vĩnh hằng.?

  6. nhật lệ

    Xin thêm một lời nói thực,cho dù thô thiển :
    Thật ra,nếu CLV.không có những bài thơ BV,TĐ.
    v.v…thì nhân cách ông ở tận đáy bùn đen nhưng
    may mắn,những bài thơ đó đã cứu vãn sự nghiệp
    thi ca của ông! Ông đáng thương hơn là khinh bỉ.
    Nói CLV.không phải là một ông thánh thì có điều
    gì đó như biện hộ.Văn nghệ sĩ chỉ nên sống như 1
    con người biết…đạo làm người ! Không cần làm
    thánh (vì khó quá) nhưng phải cự tuyệt làm qủy !

  7. Cỏ Cú

    Xin lỗi MÈO HEN hỉ, bác là mèo HEN mà tui oánh lộn chữ a nên nó thành mèo HAN. I’sorry ! Mà quê mình a thành e là độc chiêu hí bác !

    1. vananh

      Cỏ Cú quê Phú Yên hay Bình Định đó? Nghe chừng là Bình Định, có võ, hơi nóng, bộc trực!

  8. htt

    “phải chăng là sự mô phỏng Beaudelaire – kẻ gây sốc, “nhà thơ bị nguyền rủa” (le poète maudit), loài “Ác hoa” dị thường, mở đầu trào lưu thơ hiện đại Pháp bằng cách phá bỏ mỹ học hài hòa cổ điển Apollon, nghiêng về mỹ học phản hài hòa, xộc xệch, rách rưới, mê sảng Dionisos, mở ra một thế giới thi ca phi thường, rùng rợn, cuồng điên với tuyệt đỉnh đàn bà, hư vô và cái chết”.

    Đã viết được vậy sao TMH còn phê phán “MA THUẬT NGÓN” ? Hãy để một chỗ cho bọn trẻ “phá bỏ mỹ học hài hòa cổ điển, nghiêng về mỹ học phản hài hòa, xộc xệch, rách rưới, mê sảng” đi đại ca !

  9. Pingback: Top Posts — WordPress.com

  10. Cỏ Cú

    PAUL nè ! Ở đâu mà nhảy vô ghế trên ngời tót sổ sàng thế ? Đợi ngườii ta dọn cỗ lên xong , vừa ăn vừa phun nước giải??
    Cháu đọc thấy nhạt nhẽo có thể do nhiều lý do , nhưng có một lý do mà tôi biết chắc đó là cháu hơi bị VÔ VĂN HOÁ.
    Đọc lướt nên thấy nhạt là phải . Trình độ thấp, tư cách kém thì lấy gì mà đọc sâu hơn? Cỡ bài bác TMH này mà đưa cho mấy tay lang thang phất phơ vô công rỗi nghề ..đọc . thì bọn họ cũng phát biểu như PAUL thôi !
    PAUL có giỏi thì viết một bài hay hơn đi nhé !

    1. Mèo Hen

      Thôi, cho qua đi bác!
      Nói chi tốn năng lượng. Để sức còn vui với bạn bè trên chiếu. Cháu nó đi làm bài tập rồi, nó nhỏ dại mà bác!

    2. Paul

      “PAUL có giỏi thì viết một bài hay hơn đi nhé”

      Câu này nghe wen wen ha ha. Thơ nhạt thế thì bình hay thế wuái nào ta?

    1. Mèo Hen

      “Thơ nhạt nhẽo bình nhạt nhẽo”
      làm cái còm cũng nhạt nhẽo theo!
      Chỉ còn tiếng cười của Thánh Paul
      hahaha là vẫn trong veo! Eo!

  11. htt

    “Chế Lan Viên là một thiên tài. Mà tất cả các thiên tài đều tự mâu thuẫn, nhiều giằng xé không sao giải quyết. Trong ông, con sư tử và con nai ở chung với nhau, mèo phải hội họp với chuột, cái ác và cái thiện là một cặp bài trùng chuyên môn cãi lộn nhau, sự thuỷ chung và sự phản bội phải làm phép hôn phối trước vị linh mục có tên là nhân tính. Ông phức tạp hơn cái người ta hiểu bội phần. Thậm chí, cái sự phức tạp, nhiêu khê, rối rắm, thậm chí hỏa mù của thế giới nội tâm mình, ông cũng không tự nhận thức nổi”.

    TMH hình như cũng đang sám hối, thanh minh với đời, với mình qua đoạn văn trên ??? :)

  12. danchoa

    Mấy suy nghĩ về Chế Lan Viên qua bài viết của Trần Mạnh Hảo

    Lâu nay người ta hầu như ít luận bàn về các thi nhân cách mạng Việt Nam, thi thoảng mới nhắc tới, nhất là qua các hồi ký của những người một thời một thuở nay đã về già. Đối với nhà thơ Chế Lan Viên, dân văn chương có nhắc tới. Nhưng ít khi luận bàn về thi ca của ông. Trên các diễn đàn chỉ nhắc tới các tập „ Di cảo“ của Chế Lan Viên như dẫn dụ ra một hiện tượng phản tỉnh của một nhà văn cách mạng mà thôi. Hoặc trong nhà trường thì cũng chỉ nhắc đến bài thơ nổi tiếng „ Người đi tìm hình của Nước“ để ngợi ca Chủ Tịch Hồ Chí Minh .
    Tên tuổi và thi phẩm của Chế Lan Viên dường như chỉ lặng đọng lại trong lớp người lớn tuổi. Còn đối với thế hệ trẻ và xã hội hiện đại thì Chế Lan Viên quá mờ nhạt, thậm chí dần dần rơi vào lãng quên.

    Tôi rất vui khi sau hơn 20 năm ngày Chế Lan Viên thành người cõi trên, lại đọc được bài viết kĩ càng về Chế Lan Viên, nhất là người đó lại là một nhà thơ, một nhà phê bình sắc sảo, ông Trần Mạnh Hảo. So với những bài viết phân tích phê bình mang tính tranh luận học thuật ở nhiều lĩnh vực khác, bài này ông Trần Mạnh Hảo viết rất dễ chấp nhận, lành tính và cũng rất ân tình với tiền nhân họ Chế. Theo lời đề dẫn của tác giả thì ông Chế Lan Viên cũng đã ra tay ứng cứu khi ông Trần Mạnh Hảo bị „ tai nạn nghề nghiệp“, có nghĩa là ông Hảo ít nhiều phải hàm ơn ông Chế Lan Viên. Nhưng đọc bài của ông Trần Mạnh Hảo viết thì tôi thấy ông Hảo đã cố gắng đứng ra ngoài phạm vi ân nghĩa ấy. Ông Trần Mạnh Hảo đánh giá công bằng vai trò ảnh hưởng thi ca của ông Chế Lan Viên đối với nền văn hóa Việt Nam. Con người cụ thể Chế Lan Viên cũng chứa đựng cái hay, cái dở chứ cũng không phải hoàn toàn chói lọi như nhiều người lầm tưởng.

    Bài „ Chế Lan Viên – Người làm vườn vĩnh cửu“ là một bài tôi thích. Giọng văn của ông Trần Mạnh Hảo rất hiện đại, giống như phương pháp hay sử dụng của các cây bút chính luận phương Tây. Có nghĩa là họ mổ xẻ cái lớn- vĩ mô bằng cách tiếp cận cái bé-vi mô khởi đầu. Ông Trần Mạnh Hảo dùng hình tượng đến thăm, nói chuyện với nhà văn lớn Chế Lan Viên trong khung cảnh ông Chế đang khuấy nồi cám lợn, dù rằng chỉ hôm qua đâu đó ông Chế còn hùng hồn diễn thuyết ở văn trường quốc tế. Bi và hài chen lẫn nhau mà là toàn sự thực. Nội dung chính của bài này là ông Trần Mạnh Hảo cố gắng mổ xẻ nội tâm của một con người, một nhà thơ lớn của thời đại qua các chặng đường lịch sử. Những nhận xét của ông Trần Mạnh Hảo khá chính xác, làm cho bạn đọc hấp dẫn và bị lôi cuốn và hoàn toàn thuyết phục. Duy chỉ có điều là ông Trần Mạnh Hảo sử dụng nhiều câu chữ hơi trìu tượng, nhiều phạm trù triết học hơi cao. Cái này chỉ sướng cho dân học thuật nhiều chữ nghĩa, còn người bình thương thì khó tiếp cận.
    Bài „ Chế Lan Viên và ba niềm sửng sốt“ là một bài ngắn nhưng lại chứa đựng tổng kết súc tích nhất về con người và tác phẩm của Chế Lan Viên. Người đọc dễ cảm nhận nhất và dễ đồng ý với ông Trần Mạnh Hảo. Ông Hảo đã đánh giá chính xác 3 giai đoạn với 3 bộ tác phẩm của con người Chế Lan Viên. Điều này hẳn hầu hết bạn đọc đều tán thành. Tôi rất thú vị khi thấy ông Trần Mạnh Hảo nhận xét. Cuộc đời của ông Chế Lan Viên cùng với các tác phẩm của ông là một hành trình gian khổ, đầy bi hùng, tự đi tìm chính bản ngã của mình. Ông khởi đầu là Ma, là linh hồn sót lại của quá khứ oai hùng, bước sau là Người, Người hùng của xã hội đè bẹp quá khứ và mơ tới trời cao và cuối cùng là chính bản ngã chân thực của con người, có tốt và có cả xấu nhưng hướng Thiện.

    Riêng tôi cũng khi nhắc đến Chế Lan Viên là vô cùng ngưỡng mỗ. Ông Chế Lan Viên viết „Điêu tàn“ khi mới 16 tuổi cũng như ông Nguyên Hồng viết „ Bỉ vỏ“ với lứa tuổi đấy. Cả hai ông đều là bậc tài danh khi ở lứa tuổi đó. Họ đã bước vào thi đàn và văn chương bằng cái tài thực của mình. Rất lạ là ở lứa tuổi nào đọc hai tác phẩm này đều hấp dẫn và nếu biết tác giả chỉ mới 16 tuổi thôi thì e không thể nào tin nổi.

    Riêng thơ của Chế Lan Viên thì không phải ai cũng có thể cảm thụ được. Những ai yêu mến dòng thơ mộc mạc, ý tứ rõ ràng, có niêm luật thể thức thì khó có thể chấp nhận dòng thơ mới của Chế Lan Viên được. Vì thê khi tập „Điều tàn“ mới ra thì Chế Lan Viên đã chịu khá nhiều đao búa của các trường phái thơ cũ. Họ cho là Chế Lan Viên dùng thơ phá thơ. Nhưng đây cũng chính là nét khai phá và đóng góp to lớn của Chế Lan Viên đối với nền thi ca nước nhà.
    Thơ của Chế Lan Viên khá trìu tượng. Ông sử dụng nhiều ẩn dụ và suy tưởng triết học ở từng câu chữ, vì vậy đọc và hiểu nó cũng không đơn giản. Thể loại thơ ông sáng tác cũng đa điệu. Nhịp ngắn có, dài có và nhảy bậc cũng có. Có thể nói là ông đã tiên phong trong cách khai phá các thể loại cho dòng thơ mới và nhất là loại trừu tượng cho các thi nhân lớp sau.

    Những năm cuối đời, ông viết nhiều bài cho „ Niềm sửng sốt“ cuối cùng. Nhưng đáng tiếc là xuất bản quá muộn. Vì lý do gì thì chắc chỉ có ông và bạn bè ông biết. Nhưng giả sử được xuất bản khi ông còn sống thì như thế nào nhỉ?
    Trong các bài ở giai đoạn cuối là Chế Lan Viên đang hành trình trở lại với chính mình. Cũng là một dạng như „Đi tìm cái tôi đã mất“ của Nguyễn khải hay của các vị khác như Tô Hải, Nguyễn Đăng Mạnh…mà thôi. Rồi trong thời gian tới có còn những ai nữa?

    Đọc hai bài viết của Trần Mạnh Hảo tôi rất thích. Ở đây ông Trần Mạnh Hảo đã phân tích và đánh giá con người Chế Lan Viên một cách khách quan. Ngoài những đánh giá cao về đóng góp của Chế Lan Viên và nhân cách giản dị trong con người cụ thể thì bạn đoc cũng có thấy thấp thoáng bóng dáng của một „ hung thần chế độ“. Nhưng tựu trung ông Trần Mạnh Hảo vẫn nghiêng về trân trọng đối với nhà thơ Chế Lan Viên.
    Tôi cho rằng nhà thơ Chế Lan Viên đã có một vị trí chắc chắn và ổn định trong nền thi ca hiện đại của Việt Nam. Nhưng bước lên hàng thi bá của Dân tộc thì có lẽ chưa tới.

    1. vananh

      Ua chào chầu, kính phục quá! Danchoa làm ở Viện Văn học à? Bựa nào phụ đạo cho iem về văn chương nhé! Đảm bảo trả công đàng hoàng, không xù đâu!

    2. Mèo Hen

      “Tôi cho rằng nhà thơ Chế Lan Viên đã có một vị trí chắc chắn và ổn định trong nền thi ca hiện đại của Việt Nam. Nhưng bước lên hàng thi bá của Dân tộc thì có lẽ chưa tới”.
      Cái này thì MH tui nhất trí với Dân Choa.
      Cái Đại Còm này của bác hay quá!

  13. Trần Mạnh Hảo

    Trần Mạnh Hảo xin cám ơn các quý quan bác, quý bạn bè, quý anh chị…trên chiếu rượu nồng ấm này đã đọc hết hai bài ( dài thòng) viết về Chế Lan Viên của tôi và cho nhiều ý kiến chỉ giáo. Trần Mạnh Hảo xin cám ơn quý vị đã khen và đã chê, đã bàn và đã luận về những điều chúng tôi đặt ra. Chúng tôi đang tồn tại trong cái khiếm khuyết của mình, sẽ ráng viết một ít bài nữa để hầu chiếu rượu quêchoa. Chúng tôi tâm đắc với nhiều comment đã gợi mở cho chúng tôi hướng đi tới và độ lượng, ưu ái với ngòi bút đang về già này. Chúng tôi rất tâm đắc với comment Thuận Nghĩa. Là một tín đồ Thiên Chúa giáo, nhưng chúng tôi lại rất mê Phật. Vâng, Chế Lan Viên tựu trung cũng là một Phật tử theo môn phái Huệ Năng : chẻ tượng Phật ra làm củi để sưởi ấm kẻ đang sắp chết rét. Tinh thần Bát Nhã có lẽ chính là chìa khóa cứu thế giới thoát khỏi cái ác, cái xấu, cái dối trá, gần giống với tinh thần của Dostoevskij : “Cái đẹp sẽ cứu vãn thế giới”. Bát Nhã rốt ráo giải thoát chính cả sự giải thoát, giác ngộ chính cả sự giác ngộ… Trần Mạnh Hảo xin chép tặng bác Thuận Nghĩa và các bác hai bài thơ :

    ĐỨC PHẬT DI LẶC TRẢ LỜI CHÚNG SINH

    Như Lai ngộ bằng đầu

    Thiền kiểu nào cũng đúng

    Trời đất vừa một bầu

    Ta thiền bằng cái bụng !

    Trần Mạnh Hảo

    SÁT PHẬT

    Thành Phật phải sát Phật

    Gốc bồ đề một mình

    Người nhập cùng tạo vật

    Diệt diệt mà sinh sinh

    Ở ngoài vòng sinh tử

    Cọng cỏ cũng Phật mà

    Ngộ rồi là chưa ngộ

    Phật Phật mà ta ta

    Chẳng cần phải diệt dục

    Khi đã nhập Niết Bàn

    Còn sợ gì gái đẹp

    Hợp hợp mà tan tan

    Phật không thể thành Phật

    Nếu sợ kiếp luân hồi

    Khoát tay ngoài thiện ác

    Một một mà đôi đôi

    Đ ời đâu phải bể khổ

    Sát Phật, Phật quay về

    Chết rồi còn mắc nợ

    Tỉnh tỉnh mà mê mê

    Phật tự tỏa, tự nhập

    Cứ chi phải nâu sồng

    Đừng hỏi hư hay thực

    Sắc sắc mà không không

    Thuý Kiều vừa thành Phật

    Mười lăm năm tu hành

    Cõi tâm thành cõi Phật

    Lầu không lầu không xanh

    Trần Mạnh Hảo

    1. Zhivago

      Cái avatar ni không phải của TMH mà là của ……. (rất nhiều tên trên entry này đã dùng cái avatar này) từ đó suy ra: đây là TMH rởm!!!!!

      1. Mèo Hen

        @Thám tử Zhi: Phát hiện của Zhi rất chính xác, có đến cả Trung đội Zhi ạ! Mới trong một Entry mà có đến một tiểu đội rồi, mà toàn nick quen.
        Suy ra, có thể máy công sở, máy công cộng, nên nhiều người dùng chung.
        Tuy nhiên, vẫn không biết ai giả ai thật! May ra chỉ mình mình TMH là biết thôi.
        Nói cho vui thôi, cũng chẳng để làm gì, Zhivago À!

      2. danchoa

        Dr. Zhi tuổi trẻ, tài cao, phát hiện rất nhanh, ngay khi còm này post vào. Rất tự tin khi viết dòng trên. Bản lĩnh.

      3. Dong

        @Zhi & @Dân đoán già đoán non làm chi, đọc to lên thì biết ngay mà. Còn mục đích họ làm thế để mưu việc chi, chịu !

      4. van

        Hôm trước, trong 1 còm, tớ đã liệt kê các nick có chung avatar của tay này, nhưng một bạn còm bảo: – Cứ để xem sao!

  14. ngườilàngcốm

    1. Trong lịch sử văn chương, mới chỉ thấy hiện tượng tác giả này “phản” lại tác phẩm của tác giả kia, nổi danh nhất như: “Phản chiêu hồn” (chống lại việc chiêu hồn) của Nguyễn Du viết trong một chuyến đi sứ Trung Quốc năm 1813 khi ngang qua sông Mịch La. Nguyên do là Tống Ngọc, người cùng thời với Khuất Nguyên có làm bài từ chiêu hồn gọi Khuất Nguyên về để sống lâu thêm với cõi đời trần thế. Nguyễn Du chống lại ý ấy, khuyên hồn không nên trở về cõi trần đầy những bọn quan lại gian ác; hay bài “Chiến tụng Tây hồ phú” của Chiêu Lì Phạm Thái bày tỏ lòng trung của mình với nhà Lê ngược với bài “Tụng Tây hồ phú” của Nguyễn Huy Lượng vốn là tôi nhà Lê, sau làm quan với Tây Sơn, viết bài phú này ca ngợi vua Quang Trung.
    Nhưng ở Chế Lan Viên, với “ ba tập thơ di cảo khổng lồ của ông được nhà văn Vũ Thị Thường ( là vợ) công bố, trưng ra một Chế Lan Viên khác, một Chế Lan Viên phản Chế Lan Viên, một Chế Lan Viên dùng thơ để phản biện chính trị, để nói toẹt ra rằng ông đã bị lừa ( bài “Bánh Vẽ”), ông đã có tội với nhân dân ( bài “Trừ đi”- các ông Cộng vào thì Chế ta Trừ đi ), ông đã đi nhầm đường…”. Tạm gọi ba tập di cảo khổng lồ đó là “Thơ phản thơ Chế Lan Viên”. Đây cũng là một nét rất đặc biệt trong con người nhà thơ Chế Lan Viên.

    2. Ngay từ khi “Điêu tàn” mới ra đời, Trương Tửu là người đầu tiên đã lý giải hiện tượng Chế Lan Viên, một trong bốn nhà thơ của nhóm “Bàn thành tứ hữu” hay “Nhóm thơ Bình Định”, theo cách gọi của người đương thời còn theo cách gọi của chính họ là “Trường thơ loạn” (1936), gồm Chế Lan Viên, Quách Tấn, Hàn Mặc tử và Yến Lan. Trong tứ hữu thì Hàn Mặc Tử đã qua đời năm 1940, Quách Tấn thì từ 1945 đến 1954, cùng gia đình tản cư về Bình Định, làm ủy viên Ủy ban ủng hộ kháng chiến, thủ quỹ Mặt trận Liên Việt huyện Bình Khê. Sau 1954, ông hồi cư về Nha Trang đi làm công chức tại Qui Nhơn, có lúc làm Phó tỉnh trưởng Bình Định, Công Ty du lịch Huế, Phó tỉnh trưởng Khánh Hòa. Chỉ có Chế Lan Viên và Yến Lan là đi theo cách mạng trọn đời
    Trong bài “Quan niệm về thơ của Chế Lan Viên”, sau khi chép lại một đoạn trong bài Tựa tập thơ Điêu tàn (1937) do chính Chế Lan Viên viết:
    “Hàn mặc Tử viết: Làm thơ tức là điên. Tôi thêm: Làm thơ là sự phi thường. Thi sĩ không phải là Người. Nó là Người mơ, Người say, Người điên. Nó là Tiên, là Ma, là Quỷ, là Tinh, là Yêu, Nó thoát Hiện Tại. Nó xáo trộn Dĩ vãng. Nó ôm trùm Tương Lai.”
    Trương Tửu nhận định: “Ông Chế Lan Viên đã khách quan hóa cái chủ thể của ông. Nên ông lầm. Vì thi sĩ bao giờ cũng có khuynh hướng chủ quan hóa cái khách thể của sự vật. Ông đã rời bỏ khuynh hướng ấy. Ông đã phản cái bản tính thiên bẩm của mình. Ông có tội với Nàng Thơ.”
    Trong bài “ Một thi sĩ của Điêu Tàn” Trương Tửu lại nói: “ Ông Chế Lan Viên đã quên mất cái Ta, chỉ còn sống trong cái Mê.”.
    Nếu như nhận định của Trương Tửu là đúng thì sau những cơn mê trong “Điêu tàn”, Chế Lan Viên mê tiếp trong “Ánh sáng và phù sa” rồi mê “trói đám cầm bút lại cho dễ quản lý” Sau khi đảng thấy cởi trói cho các nhà văn là hớ, là lợi bất cập hại. Chỉ đến cuối đời mình ông mới tỉnh và nhớ đến cái Ta và với cơn tỉnh này ông đã để lại cho đời ba tập thơ di cảo khổng lồ , nghe nói có cả ngàn bài thơ di cảo, cũng là lẽ tât yếu của một thi sĩ của Điêu tàn.

    3. Tôi có cảm nhận rằng, ông Trần Mạnh Hảo đã lý giải rất trúng trong hình ảnh “con nghé thơ” rồi “con trâu thơ”
    Khi là con nghé thì ăn cỏ đồng xa hay ăn cỏ đồng nhà là tùy vào người chăn dắt. Khi thành con trâu thì cày đồng đang buổi sớm, buổi hôm hay đang buổi ban trưa; cày đồng sau hay đồng cạn là tùy vào người chủ cày.

    Lại có người lại ví nhà thơ như con ngựa kéo cỗ xe văn nghệ, thế thì cỗ xe nặng nhẹ ra sao, phải kéo trên con đường bằng phẳng hay con đường khấp khểnh gập ghềnh cũng lại tùy vào người xà ích.

    Chế Lan Viên không nói mình là con nghé hay con trâu, con ngựa kéo xe, mà nói: “Lòng ta mục đồng / Cũng đi chăn đấy”… “Tôi chỉ là nhà thơ cưỡi trâu”. Là mục đồng hay là nhà thơ cưỡi trâu thì cũng phải cùng trâu đến những nơi được phép của lệ làng mà thôi.

    4. Chỉ với một tập thơ “Điêu tàn”, ba tập di cảo đồ sộ và một cuộc đời “chưa hề được cấp nhà một lần trong đời, không bao giờ có được cái điện thoại. Cho đến khi mất, ông chưa hề được những nhà xuất bản nhà nước tái bản một cuốn sách nào. Ông sống đạm bạc mà thanh cao, tự tại nơi khuất nẻo xa xôi trong góc ngoại ô phía Tân Bình.”. Chỉ ngần ấy thôi, cũng đủ để chúng ta trân quý Chế Lan Viên, thương cảm Chế Lan Viên, ngưỡng mộ Chế Lan Viên.

    Chắc giờ này ở cõi vĩnh hằng, Chế Lan Viên cũng mỉm cươi vì mình đã phản tỉnh sáng mắt sáng lòng, không chỉ cho riêng mình mà cho biết bao người đời nữa!

  15. vietblu

    Năm 1973, tôi nghỉ phép từ Liên Xô về, một người bạn nhờ tôi mang đến cho bác Viên, cô Thường một cái tủ lạnh nhỏ. Lúc ấy, bác đang ở tập thể, trong 49 hay 51 gì đó Trần Hưng Đạo, Hà Nội. Bác khép nhanh cửa, bảo tôi để vào góc nhà, lấy cái chăn phủ lên rồi bảo tôi đừng nói với ai.
    Thời ấy (đang còn chiến tranh) nhà có tủ lạnh, thiên hạ dòm ngó, là “nóng” người chứ chả mát mẻ gì. Khổ thế!
    49 rồi đến 51, bao giờ qua được 53?

    1. cogaitinhnguyenvadieumua_apsara

      Hi ! Thời ấy mà có cái tủ lạnh hay ti vi là đều được gọi là nhà giàu hay tư sản rồi đấy Bác nhỉ ? Cô gái nhớ có vị tham ô dạo ấy toàn nhà tranh vách đất hoặc có khá hơn toàn nhà cấp 4 chưa tô xi măng tạm bợ lắm thế mà nhà vị tham ô đó làm bằng đá rửa ( oách nhất thời ấy ) giờ thấy nhà nào đá rứa thì khác chi nhà tranh vách đất ngày xưa, cái thời ấy khổ nhưng vui Bác nhỉ ?

  16. Ngo Thu Le

    1/ Trong bài thơ “Người đi tìm hình của Nước”, CLV tự thóa mạ quá khứ của mình: “Lòng ta thành con rối / Cho cuộc đời giật dây”. Khi viết bài thơ nầy, CLV có thật lòng không nhỉ ? Bây giờ nghiệm lại: bị cuộc đời giật dây, Chế có “Điêu tàn” bất hủ; được anh L giật dây, rối rụng hết tay chân, mặt mũi, chỉ còn là một khúc gỗ mục. Nhưng con rối ấy cũng múa may để… kiếm ăn và kiếm một chút quyền lực thảm hại ở đời. Loại rối nầy thời nay còn nhiều hơn trước.
    2/ “Bản thân ông biết thế nào là bị lừa, sao ông còn lừa nhân dân” (Zhivago). Bi kịch nghệ sĩ.

  17. bachduongqt3065

    “Ông hợp nhất mình với vũ trụ như làn hương hợp nhất với vòm trời. Tuy nhiên, ông thừa biết trò chơi của tạo hoá: vũ trụ vô tận kia cũng mong manh như một cánh phù dung, nên khuyên người yêu cũng chính là để khuyên mình. Những vì sao chói ngời và run rẩy kia, mi có thể rụng như sung vào tình yêu của ta bất cứ lúc nào. Quả thực, mỗi ban mai, những vì sao kia rụng đâu hết cả. Và vì vậy, chừng như những người đang yêu vì phải né tránh cái rơi rụng của các tinh cầu, nên dáng đi của họ có vẻ nghiêng nghiêng, nếu không muốn nói rằng như vệt nắng xiên khoai… Tuồng như Chế Lan Viên suốt đời phải đi kiểu nắng xiên khoai như vậy, để né tránh các tinh cầu hư vô rớt xuống từ bầu trời cô đơn, cắt rừng siêu hình ra mà tìm đến con người. Và khi ông tìm thấy con người, ông đã gặp được nỗi đau. Nỗi đau ấy ông gọi là hạnh phúc.”

    Chào anh QL ! Oa chầu chầu đúng là nhà văn nhà thơ có khác, viết chi mà dài mà hay như “ con tàu Việt Nam đi suốt bốn mùa vui “ như ri thì quả là anh bạn Râu Quặm TMH của Bọ Lập cũng đa tài đa năng quá trời , chữ nghĩa mô mà nhiều dữ dội rứa nỏ biết ? trong bài viết ni BD thích nhất đoạn trên mà nhà thơ TMH đã viết. BD cũng là một người rất yêu thơ của nhà thơ CLV từ những bài thơ hay hồi còn học phổ thông như bài thơ “ tổ quốc ta bao giờ đẹp thế này chăng “ đến bài thơ “ tiếng hát con tàu “ những bài thơ hay thưởng được độc giả đón nhận bằng tất cả tấm lòng mình vì vậy dù nhà thơ CLV đã trở thành người thiên cổ nhưng BD vẫn cảm nhận ông vẫn sống cùng chúng ta vậy, cảm ơn anh Quang Lập và cảm ơn anh Trần Mạnh Hảo đã cho BD và bà con chiếu rượu vừa uống rượu lại vừa được thưởng thức thơ của một nhà thơ lớn Chế Lan Viên người con Quảng Trị quê miềng.
    Có 3 bài thơ BD cũng rất tâm đắc BD chép mời anh Lập và Bà con cùng nghe nhé !

    ONG VÀ MẬT

    Nhà thơ như con ong biến trăm hoa thành một mật
    Một giọt mật thành, đòi vạn chuyến ong bay
    Nay rừng nhãn non Đoài, mai vườn cam xứ Bắc,
    Ngọt mật ở đồng bằng mà hút nhị tận miền Tây.

    BÁC

    Là chân lý, Bác chẳng nói nhiều hơn chân lý
    Cả nước nghe khi, im lặng, Bác cười.
    Chẳng phải lật sách nào ra tìm hiểu Bác,
    Bác sống trong ta, Bác ở giữa đời.

    BÁC VẪN CÒN ĐÂY

    Chớ để quân thù nghe ta khóc, ơi em
    Vết thương phải thành sẹo ngay đi mà đánh giặc
    Đã đau rồi đừng khóc để đau thêm
    Ta còn cả đời ta mà khóc Bác

    Bom Mỹ nguỵ tranh thủ phút này để tấn công ta
    Pháo đài máu với những bom bảy tấn
    Nguyện thương đau không thành tiếng khóc oà
    Ta đau đấy nhưng giết thù, ta vẫn sẵn

    Ta có nước mắt thương đau nhưng ta còn có lửa thương đau
    Giặc nếm cái chết lúc ta cười, cho chúng nếm thêm ngày ta khóc
    Hễ đau nhiều thì dao chém lại càng sâu
    Xuất kích lớn là giữa ngày tang tóc

    Hai mươi năm trôi phút giây nào Bác không nghĩ đến miền Nam ?
    Miền Nam “máu trong máu” và “thịt trong thịt” Bác

  18. Thuận Nghĩa

    Có những bài viết, những tác phẩm, khi đọc xong, và ngay cả khi đang đọc ta phải ngáp dài ngáp ngắn và đôi khi phải văng một câu chửi tục „con bà nó, đọc phí cả mắt“.
    Ngay cả tác phẩm „Atemschaukel“ tác phẩm của Harta Müller, tác phẩm được tấn phong giải thưởng Nobel văn học 2009 cũng thế. Mặc dầu được ca ngợi là viết dưới một bút pháp độc đáo, với cách khai thác nội tâm khác thường, và làm mới lại những gì đã xưa cũ trong cảm xúc từ thời đệ nhị thế chiến. Nhưng thực chất thì với một tác phẩm được một giải thưởng bề thế vào loại bậc nhất của nhân loại ấy như tác phẩm này cũng chỉ tổ đọc thêm phí mắt mà thôi. Vì nó chẳng đưa lại cho ta một cái gì cả, chẳng để lại một dấu ấn gì về Văn Chương, về Nhân sinh nào cả. Khác với Quovadis, với Doktor Zhivago…Atemschaukel, chìm như một hòn cuội nhỏ ném xuống dòng cảm xúc của người đọc. Chìm xuống đáy và không để lại một gợn sóng lăn tăn nào
    Đương nhiên có những tác phẩm những bài viết, hút hồn ta vào một xa lộ đầy ắp thông tin, đậm đặc, sóng sánh chất VĂN HÓA và ngầy ngậy cuốn ta vào trong vườn địa đàng bát ngát của Văn Chương, Nghệ Thuật. Muốn dừng lại không dừng được, muốn dứt ra không dứt được.. Bài viết này của Nhà thơ TMH cũng như vậy đó.
    Đây là một trong những bài viết có thể gọi là một „Khảo Luận“ về Con Người và Sự Nghiệp của họ Chế có sức lôi cuốn và tàng trữ nhiều Nguyên Lực chấn động tâm thức của người đọc về một Danh Nhân Thi Ca , một nhà hoạt động Văn Hóa trong cả 3 thời kỳ Văn Nghệ của nước ta. Thời Tiền Chiến, Thời Chiến Tranh và Thời Bình.
    Tính đa dạng muôn mặt (Không phải chỉ là hai măt) của Đời Sống Xã Hội Việt Nam trong thời kỳ „khốc liệt“ nhất của sự Sinh Tồn, được nhà thơ TMH thông qua việc khai thác Con Người và Sự Nghiệp của Họ Chế. Đã để lại cho người đọc rất nhiều ấn tượng nhất là những khám phá, lột tả, cũng như sự bốc dỡ những lớp son phấn đầy sự ma mị, ẩn khuất trong giới Văn Nghệ Sĩ, cũng như giới hoạt động Văn Hóa và Chính Trị Xã Hội.
    Tất nhiên đây chưa phải là một khảo luận thật hoàn bích về họ Chế, nhưng quả thật là một bài viết sâu sắc, năng luợng khai mở dữ dội, có sức thuyết phục và chấn động lớn lên nhận thức của người ham mộ với nhà thơ tài ba, có ngọn bút hàn lâm trong nghiệp viết của mình
    Về Chế Lan Viên. Nhà thơ Trần Mạnh Hảo đã phần nào khám phá được thế giới nội tâm qua tác phẩm của Ông. Nhưng TMH chưa thật sự khám phá được cội nguồn của tâm thức muôn mặt trong cuộc sống cũng như sự nghiệp của họ Chế.
    TMH chỉ đứng trên thế đứng Nhân Sinh của một thời kỳ à uôm nào đó trong lịch sử, và cũng chỉ muốn „lật tẩy“ cái mặt nạ nhiều đốm màu tô trét của Nhân Tình Thế Thái thời kỳ đó mà thôi.
    Cái đặc biệt nhất trong Di Cảo của Chế Lan Viên, không phải là cái quằn quại của một trí tuệ siêu việt trước những thế lực không thể nào cưỡng cầu được. Cái trường tồn bất diệt của tác phẩm họ Chế cũng chưa hẳn là những câu thơ đầy trí tuệ hàn lâm của Ông. Nếu lấy những thứ đó để làm thước đo cho sự nghiệp văn chương của Ông, thì thật là buồn cho Ông.
    Cái sự nghiệp văn chương của Ông để lại với hậu thế không phải là sự nghiệp tiên phong khai mở phong trào thơ mới như nhà Thơ TMH bình luận về tác phẩm „Ánh Sáng và Phù Sa“.
    Cái sống còn để lại trong lòng người hâm mô của tác phẩm Chế Lan Viên vẫn chính là cái đẹp hoàn mỹ trong Tình Yêu.
    Trầy trật với Nietzsche, quần thảo với Chúa, lăn lộn với Phật…cuối cùng họ Chế cũng đã tìm ra Bát Nhã cho ngọn bút của mình. Vì vậy mà Điêu Tàn nhưng không Đoạn Diệt.
    Cái vần vũ với ngôn từ của họ Chế cuối cùng cũng để hóa quyện hai dòng bạo lưu của tâm thức: Một dòng cuộn chảy vào sự hợp tác, đời sống sự bất tử, còn dòng kia cuộn chảy vào sự hủy hoại, vật chất và cái chết (Ascèce- Nikos Kazantzakis). Làm chủ được được hai dòng bạo lưu đó và phả hồn vào con chữ. Họ Chế đã đưa lại cho người đọc một cái đẹp hoàn mỹ của Nhân Sinh, đó là sự bất tử tác phẩm của Ông.
    Cây bút của Trần Mạnh Hảo khác với bút pháp của họ Chế..và cũng rất khác với bút pháp của Nguyễn Quang Lập cũng ở chổ đó. Bút pháp của TMH có vẻ nghiêng đổ về về phía dòng bạo lưu hủy hoại..nhiều hơn. Bởi vậy mà hình như những tác phẩm gần đây của ông đẩy con người ra x anhau hơn, chứ không kéo nối những vòng tay vào lại gần nhau hơn…
    Đó cũng là đặc điểm bóp chết tác phẩm „Atemschaukel“ của Harta Mülle!!!!
    Vài lời cảm nhận qua một bài viết rất ấn tượng này của nhà thơ TMH
    Một lần nữa cảm ơn nhà Thơ TMH và Bọ Lập
    TN

    1. Dong

      Khiếp cái nhà anh TN này, khen nhau cũng thể bằng mười. Anh đem một bài của TMH ra so với Quo Vadis, Doctor Zivago ? Anh Hảo xem xong trốn biệt bởi…ngượng.
      Nếu quả thực nó thuộc hàng …” những bài viết, hút hồn ta vào một xa lộ đầy ắp thông tin, đậm đặc, sóng sánh chất VĂN HÓA và ngầy ngậy cuốn ta vào trong vườn địa đàng bát ngát của Văn Chương, Nghệ Thuật. Muốn dừng lại không dừng được, muốn dứt ra không dứt được.. Bài viết này của Nhà thơ TMH cũng như vậy đó.(TN)” thì anh Hảo đã chẳng “cay đắng” trong lời phi lộ thế này :
      ….”Chúng tôi thấy cư dân trong chiếu rượu QUÊCHOA hầu như chưa hề đọc một bài phê bình thơ nào trong cả trăm bài phê bình văn học của chúng tôi đã công bố từ 25 năm nay…”.
      Tức là, anh ấy cũng thấy cả trăm bài ấy cũng chỉ hay…vừa vừa thôi, chứ chưa đạt đến mức “chấn động” như anh ca tụng đâu ạ !

  19. korolbo

    TMH viết về CLV quá hay, như bao người con của nước Việt mến yêu, CLV là cả một khối mâu thuẫn khổng lồ, viết về CLV như Xuân Sách là quá tinh nhưng phần nào cũng hơi tàn nhẫn. TMH từng thọ ơn CLV nên viết có tình hơn, âu cũng là điều dễ hiểu. Một điều hẳn dễ đi đến thống nhất hơn đó chính là tài năng của CLV và cả TMH.TMH có cái “may” là không học ĐH nên không chịu ảnh hưởng của một “giáo sư” nào, TMH thậm chí từng bị cả lề phải , lề trái chê, nào là “thò lò”, nào là “trở cờ”… Giá Bọ cho bà con thưởng thức món “Bạn văn TMH” nhỉ? “Thế nhân giai dục sát / Ngô ý độc liên tài”, em đã từng hầu rượu bác Hảo (và đọc thơ cho bác Hảo nghe, hihi)những năm 80, nếu lọai bớ những cái quá cực đoan, đôi khi chanh chua hàng tôm, hàng cá thì đọc TMH cũng nhiều thú vị.

  20. Lạc Dân

    NHỚ THI NHÂN QUÁ CỐ Ở MIỀN TRUNG

    Thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường
    Yêu thơ ca qua từng trang sách nhỏ
    Yêu thi nhân, người gửi hương cho gió
    Dệt hồn thơ thành lụa trắng Quê hương.

    Ôi, đâu rồi màu hoa Sim tím ngát
    Đưa hồn thơ biền biệt dạo lưng đồi
    Chắp cánh tình, đưa hoa tím lên ngôi
    Đời đọng lại chút vị Sim ngọt chát.

    Đất Qui nhơn, lối mòn lên Dốc đá
    Lầu ông Hoàng, người rao bán Trăng mơ
    Nửa cuộc đời, chắp chới giữa hồ thơ
    Thôn Vỹ Dạ thiên thu mờ nhân ảnh.

    Người bỏ lại đàn Bò quê đất Quảng
    Vào rong chơi thơ phú giữa Sài gòn
    Với Thúy Kiều. Ồ, chỉ là mối tình con
    Tình khơ khớ, nàng Mông Rô bự chảng.

    Dạo vườn Lan, thuở ban sơ mộc mạc
    Giữa “Điêu tàn” hương thơ ngát hồng mơ
    Áng thơ ca ba mươi mấy xuân thừa
    Hồn nhỏ lệ trừ đi ăn bánh vẽ.

    Thương quê người đất cày lên sỏi đá
    Giữa dòng thơ quấy cám toát mồ hôi
    Nợ áo cơm, mục đích trả cho đời
    Chua xót quá, thơ ca thành phương tiện.

    Kẻ hậu sinh múa rìu, rìu gẫy cán
    Mượn vần thơ, kính cảm các tiền nhân
    Văn chương thơ phú cũng cần
    Những người tài đức góp phần bằng Tâm.

    1. bachduongqt3065

      Ui chầu chầu ! BD mời anh Lạc Dân 1 ly vì có bài thơ hay dữ dội. nào, rót đầy 2 ly rượu Kim Long quê miềng nha, mời anh Lập và bà con cùng nâng cốc . chạm cấy ….cộp

      Rót đầy ly rượu Kim Long
      Mời anh mời chị ta cùng cụng ly
      Uống say cho hết đường về

      Hi Hi Hi

      1. Lạc Dân

        Chào BD, mình nhận thấy dãi đất miền Trunng nhiều nhân tài nhất VN đó, kể cả rượu đế cũng ngon có tiếng.Cảm ơn BD và xin cạn ly, lại xin thêm ly nữa mới đủ đô, he he

  21. Mèo Hen

    Thú thực tôi không đủ trình độ đẻ hiểu hết con người CLV và thơ Ông, hy vọng qua TMH sẽ hiểu được. Nhưng đọc bài viết của TMH thấy đau đầu quá, rõ ràng tôi không đủ sức để đọc TMH. Vậy chỉ còn biết đọc còm của bà con trong CR. Mỗi người phân tích theo một góc độ, một khía cạnh, một vấn đề, nhưng cái hay là tôi hiểu được hết và thu hoạch được rất nhiều, sáng tỏ thêm nhiều điều, cả về con người nhà thơ, về thơ Ông, và cả Đời nữa.
    Một kết luận rút ra, cùng Cảnh Giới thì hiểu nhau dễ hơn! Quả vậy!
    Và tôi muốn nói lời cảm ơn đến BL, CRQC và tất cả các Còm Sĩ khiêm nhường!

  22. Mc Kemeno

    đ/c Bọ cho phép lạc đề tí nhé:
    VietnamNet: …Lý Công Uẩn: Đường tới thành Thăng Long đều là người Việt Nam nhưng phim sẽ được quay hoàn toàn tại Trung Quốc, đạo diễn cũng là người Trung Quốc…
    đ/c Bọ có “dính líu” tí nào không?

  23. Bờm

    Xin được thưa trước chuyện hơi lạc đề, nhưng các bác có ai biết địa chỉ bô-xít VIET NAM chỉ giúp Bờm và các bạn đọc với.
    Rất cảm ơn

  24. Zhivago

    Thông báo:

    Để tránh bị hiểu lầm là “đấu tố” cụ Chế, em xin nói rõ: những hành động của ông mà em không đồng tình không liên quan gì đến vụ Nhân Văn Giai Phẩm mà là vụ ông đánh Nguyên Ngọc và Hoàng Ngọc Hiến/đổi mới của Nguyễn Văn Linh.

  25. Kim Dung

    Chào Bọ và các bác.
    Cả hai bài viết vừa uyên bác, vừa tài hoa, từng đoạn, từng đoạn một, ko thể chê đâu được. Cám ơn nhà thơ Trần Mạnh Hảo, và cám ơn Bọ.

    Một bữa tiệc phê bình thơ mà người sáng tác và người phê bình đều có tầm lớn, giúp người đọc hiểu sâu diện mạo một thiên tài thi ca, cả bi kịch, cả niềm “hoan lạc” lẫn nỗi cô đơn của ông trong sự vần vũ của cuộc đời. Bản chất con người là sự mâu thuẫn đối lập nhưng thống nhất. Càng có trí tuệ, có tâm hồn lớn, con người càng chứa nỗi đau lớn về nhân thế. Ko phải ai cũng dám “ly thân” như TMH. He…he..Vì thế mà hạnh phúc của sự sáng tạo thi ca của CLV luôn gắn với nỗi bất hạnh của một tâm hồn chỉ CLV mới hiểu.
    Cảm ơn Bọ và nhà thơ TMH lần nữa

  26. Vớ Vẩn

    Tại sao không chỉ riêng Trần Mạnh Hảo mà còn nhiều người khác nhớ và viết về Chế Lan Viên?
    Phải chăng nhắc đến Chế Lan Viên là người ta nhắc đến những “nhát chém” vào lưng những người anh em văn nghệ sĩ như Trần Dần đã viết: “Tôi đi giữa trời mưa đất Bắc/Đất hôm nay tầm tã mưa phùn/Bỗng nhói ngang lưng/máu rỏ xuống bùn/Lưng tôi có tên nào chém trộm?“. Hay nhắc đến Chế Lan Viên là muốn nhắc đến “di cảo thơ” để lại cho đời như một lời sám hối trước khi về miền viên miễn: “Anh đóng giả trăm vai, lại đánh mất mình“, một di vật làm chứng cho những sự thật mà ông chợt giác ngộ ở ga đỗ cuối cùng của con tàu cuộc đời.

    Có nhiều cách để đánh giá một con người, tùy theo quan điểm của mỗi người, chúng ta đánh giá Chế Lan Viên thế nào đây? Ông có công hay là có tội? Xấu tốt hay dở thế nào là việc phán xét của mai hậu, nhưng trước khi về miền viên miễn, họ Chế đã nhận ra rằng là phải trở về với chính mình(?), nguyên một ngọn tháp Bayon 4 mặt rõ ràng. Tôi không muốn, và nếu muốn cũng không đủ khả năng để bào chữa cho Chế Lan Viên, nhưng theo tôi “di cảo thơ” của họ Chế là những đóng góp sâu sắc cho đồng loại.

    Theo lẽ trung dung, trong con người có hai mặt âm và dương như mặt trời mặt trăng, thiện và ác, sáng và tối. Con người là vậy. Vế nào thái quá đều là bất bình thường. Con người chỉ toàn cái tốt, hoặc toàn cái xấu mới là không bình thường, vì sống là phải vận động, vận động để tồn tại nên trong nhiều cái tốt cũng có lúc mắc sai lầm. Chế Lan Viên cũng không thoát khỏi quy luật đó. Cũng nên thiết nghĩ rằng trong điều kiện của một môi trường mà đa dạng, đa nguyên văn hoá bị thủ tiêu, học thuyết, và chủ nghĩa đã biến thành những giáo điều kinh thánh, nhân sĩ trí thức đã trở thành những tù binh của ý thức hệ. Họ không vượt qua được bản thân mình để dám nghĩ khác, nói khác những điều chính thống đã từng ngự trị và chi phối đời sống tinh thần của họ, nghĩa là không dám nói lên sự thật. Sự dối trá sẽ trở thành một bệnh dịch tinh thần lan truyền trong xã hội, trong đó, những người như Chế Lan Viên vừa là những tòng phạm, vừa là những nạn nhân. Tôi còn nhớ lời của một blogger đã phát biểu khi nghe Hoài Thanh nói với Từ Sơn “Điều mà cha có thể hoàn toàn yên tâm và tự hào trước lúc đi xa là cha đã sống và viết hoàn toàn trung thực” rằng: “Tôi không tin có văn nghệ sĩ nào sống ở miền Bắc giai đoạn sau 1954 lại có thể “sống và viết hoàn toàn trung thực”, trừ khi là họ bỏ bút và đi cày. Đến ngạo nghễ như Nguyễn Tuân mà còn than rằng “tao còn sống tới giờ là vì biết hèn”. Trung thực như Phùng Quán thì cái giá phải trả là kiếm sống bằng cách câu trộm cá ở Hồ Tây. Sống cái thời đó, các văn nghệ sĩ đều phải chấp nhận giả dối trong sáng tác, phê bình; bằng không chỉ còn nước bẻ bút“.

    Đến đây thì nhiều bạn đọc sẽ bảo rằng nói như vậy cũng không đúng vì cùng thời của Chế Lan Viên, của Hoài Thanh, Tố Hữu… tại sao “Những ngày ấy bao nhiêu thương xót“, vẫn có những Trần Dần, Trần Hữu Đang, Hữu Loan, Phùng Quán, Lê Đạt…đã dám “không hèn”, đã “dại” chịu đoạ đày mà nói lên sự thật, đã không đâm vào lưng anh em, bè bạn, đã không quay lưng lại với nhân dân!

    Trong đạo Phật, có một từ rất là màu nhiệm, đó là từ “Giác Ngộ“. Giác ngộ là nhận thức đúng về một sự vật, hiện tượng mà mình đã lạc lối trước đó, nhận thức đúng về con người thật của mình và sống thực với những sự thật ấy. Cuộc sống đa đoan quá , đôi lúc chúng ta sống với sự giả dối và chúng ta tạo nên một gương mặt khác với chính mình gọi là ngã chấp. Chế đã giác ngộ, đã nhận chân ra sự giả dối “Họ thầm biết trên đầu mình có kẻ/Tay vẽ bánh cho người, mồm nhai thứ thiệt ung dung“(thơ Bùi Minh Quốc), đã nhận thức được bộ mặt thật của chính mình “Không phải!/Nhưng cũng chính là tôi/Người có lỗi/Đã phải giết đi bao nhiêu cái/Có khi không có tội như mình“, và đã không dám sống đúng với bộ mặt thật của mình mà chỉ làm diễn viên trên sân khấu cuộc đời “Anh đóng giả trăm vai, lại đánh mất mình“. Tội nghiệp thay! Chế Lan Viên cả một đời tận tụy với Đ, mất đi chẳng để lại tài sản gì cho con cháu, ngoài “di cảo thơ”. Sao ông “dại” thế, không như Tố Hữu, ra đi còn để lại “chút gì” cho con cháu của ông. Theo nguồn Blog Osin, sau ngày TH mất, gia đình ông đã bán nốt căn biệt thự ở phố Hồ Xuân Hương với giá tính bằng đô la cũng hơn 7 triệu.

    Ôn Cố Tri Tân, không biết rồi đây có ai trong hàng ngũ văn nhân, trí thức hiện nay sẽ để lại cho đời “di cảo thơ” như là Chế Lan Viên nhỉ???

  27. nhật lệ

    Cũng hơi…ngà ngà cho nên xin lạc đề 1 chút.
    Mình biết mặt TMH.sau 1975 khi VN.thống nhất
    được 4 năm.Phải thú thât là tôi rất ngạc nhiên
    vì khuôn mặt sáng láng đẹp trai của ông và lại
    biết ông là 1 nhà thơ có thơ đăng trên VNQĐ.
    mà mình tò mò mua đọc trước đó.Hôm ấy,mình
    lò dò vào Bộ Giáo Dục (cũ) xin đăng ký…dạy học
    để có cớ ở lại SG.chứ nghề ngỗng mình thuộc
    ngành khác !
    Sau này,đọc văn và thơ ông thì thấy ông sở
    trường làm thơ hay.Còn văn ông thì văn nghị
    luận bút chiến là sở trường.Có điều nhiều khi
    ông tự tin quá đến nỗi đi quá đà khi tranh luận
    với NHQ.hay ĐMT.,thành ra…trật đường rầy !
    Tuy nhiên,những bài về NK.hay CLV.đã chứng
    tỏ tài năng của TMH.

  28. Mê Linh

    Một số còm nói : dân miền Trung quêchoa cứ là thẳng ruột ngựa, cái gì thì cứ huỵch toẹt ra. Nhưng văn học thì phải đa ngữ nghĩa, dư ba. Nguyễn Du mà cứ huỵch toẹt ra thì chỉ là hạng văn vần, là vè. CLV quêchoa đích thị mà sao thi ca sâu thẳm nhiều tầng thế. Lấy sự huỵch toẹt ra mà đọc CLV và đọc lời bình của TMH thì không đặng đâu. Miền Trung quê choa tế nhị lắm, lịch lãm lắm, sâu sắc lắm, hào hoa lắm…
    Văn của ông Hảo hơi có vẻ triết triết và hơi hám kinh thánh thì mới bình nổi thơ CLV

  29. minhhoang

    Lẽ ra tiếng thơ của nhà thơ phải như tiếng hót của loài chim, hồn nhiên, nhi nhiên ban phát vẻ đẹp cho đời.
    Còn Chế Lan Viên thì coi văn chương là vũ khí chiến đấu phục vụ cho chế độ. Ông ta nã đạn đại bác vào tất cả những gì mà chế độ cho là kẻ thù.
    Mà súng đạn thì không cần cảm xúc, cho nên thơ ông ta toàn là lí lẽ, y như bài xã luận bắt thành vần, và để che giấu sự rỗng tuếch, ông ta dùng rất nhiều đại ngôn và diễn đạt dưới những mệnh đề gần với các mệnh đề triết học. Ông ta có cái tài của một kẻ xảo ngôn, phù thuỷ ngôn từ. Ông ta rất nguy hiểm cho nền văn minh giàu tính nhân văn

  30. Nhân Sâm

    Thiên Nhai đồng ý với cách lý giải của bạn QC. Con người mà, “gặp thời thế thế thời phải thế”. Đâu phải CLV là ông thánh.
    Bạn Zhivago viết bài thơ sắt máu quá. CLV đâu có bắn ( hiểu theo nghĩa tinh thần) giết dữ như thế ? Bắn giết dữ tợn là một ( những) kẻ khác. CLV đã tự thú, đã sám hối, đã tự bắn vào mình bằng những ” Bánh vẽ” và “trừ đi” cùng nhiều bài thơ khác.Sao bạn Zhivago còn bắn vào CLV mãi thế ? Chủ đề entry này là thơ CLV mà, đâu phải để ĐẤU TỐ CHẾ LAN VIÊN như bạn Zhivago đang làm.
    Con người, không có sự bao dung không thể tồn tại trong cộng đồng. Zhivago đang DÙNG BIỆN PHÁP SẮT MÁU CỦA CS để đổi mới ư ?Căm thù không giải quyết được gì, chỉ thêm căm thù mãi mãi. Hãy đọc lại kinh Phật : ” lấy oán báo oán, oán oán trùng trùng, lấy ân báo oán mới diệt được oán”. Zhivago là người trí thức, đọc nhiều, xin có mấy lời thưa lại.

    1. Zhivago

      “CLV đã tự thú, đã sám hối, đã tự bắn vào mình bằng những ” Bánh vẽ” và “trừ đi” cùng nhiều bài thơ khác.Sao bạn Zhivago còn bắn vào CLV mãi thế ?”

      Thấy ông tự bắn mình, em chỉ muốn giúp ông một tay thôi mà. Giúp cũng là tội lỗi sao? Em không phải trí thức mà chỉ là một người dân, và là một người dân em khao khát đổi mới, tự do cho văn nghệ. Về phần đọc nhiều, em cũng đọc ít thôi chứ không nhiều, nhưng khổ cái vừa đọc vừa nghi nghi ngờ ngờ, tác giả viết rứa chứ biết đâu lúc chết lại có một tập “di cảo” hé lộ “một XYZ khác, một XYZ phản XYZ, một XYZ sám hối” làm em vừa tiếc tiền, tiếc thời gian đọc và tiếc niềm tin.

      Bác cứ yên tâm, cái bài thơ khỉ gió của em chẳng ảnh hưởng tới tên tuổi CLV mô, như châu chấu đập vào tượng đài ấy. Ba tập Di cảo đồ sộ đủ làm hậu thế nhớ về một CLV trăn trở và tiến bộ chứ nỏ đứa mô thèm nhớ một CLV từng viết bài đánh lại đổi mới của NVL.

    2. vananh

      @Nhân Sâm: “Thiên Nhai đồng ý với cách lý giải của bạn QC…”

      Ủa Thiên Nhai cũng là Nhân Sâm à, mà cũng là Thu Không, Nhí Nhảnh, Ngàn Khơi, Thu Ngã, Nguyên Đán, Vân Vi, Tuyết Nguyệt, Gạo Cội, Thu Nguyễn, Quê Người…phải không?

      Chỉ trong 1 entry này mà bác mặc tới 12 áo, nhà giàu thế!

  31. QC

    Con người ta không phải là ông thánh, mà ông thánh cũng vẫn có sai lầm. Khi ta mới xây cái nhà, ta thấy nó rất đẹp rất hoàn hảo, một thời gian sau thì thấy nó không phải như vậy nữa. CLV cũng không phải là một ngoại lệ, từ tin tưởng, phân vân rồi khẳng định. Đừng vội kết luận là ông hai mặt. Tôi nghĩ rằng trong từng giai đoạn ông đã nói lên cái tâm của mình, cái mà mình nghĩ. Ông đã trung thực với bản thân mình, với mọi người. Đáng lên án là những kẻ biết là sai tong rồi nhưng vẫn bảo đó là đúng để lừa người khác và duy trì quyền lợi của mình.

  32. Zhivago

    Viết nhân đọc “Lời dẫn” của TMH:

    Mới hôm qua anh còn bắn vào tôi,
    Kẻ vô tội như là trẻ nhỏ,
    Bắn điên cuồng như tên lính khố đỏ
    Bắn thẳng vào máu thịt của nhân dân.

    Hôm nay mộ anh cỏ xanh rì,
    Di cảo anh người người cùng ngưỡng mộ,
    Buộc tôi phải nghiêng mình biết ơn kính cẩn
    Anh – người đã bắn vào tôi.

    1. Trảo Nha

      Hai người ngồi uống bia và quen nhau ở quán. Sau khi biết ông kia là đao phủ ở nhà tù thành phố, người này hỏi:
      -Ông làm nghề đao phủ mà không cắn rứt lương tâm à, bởi biết đâu trong số những người ông chém đầu, có những người vô tội
      Ông đao phủ cúi mặt thở dài:
      -Biết làm sao được, ai cũng phải sống mà
      ——-
      Đến đao phủ thực sự còn có người đáng thương

      1. Zhivago

        TÊN ĐAO PHỦ VÀ NHÀ THƠ

        Dr Zhivago

        Tên đao phủ có thể đếm chính xác
        Bao cái đầu hắn đã chém lìa thây.
        Già trẻ, trai gái rồi cũng vậy
        Về với cát bụi, với vô tri.

        Nhưng nhà thơ khi bẻ cong ngòi bút
        Có đếm được bao đôi mắt mình chọc mù
        Của những tâm hồn ngây thơ chất phác
        Vẫn còn sống và còn khổ đau?

      2. Trảo Nha

        Bạn Zhi
        Nếu đã đọc Người hùng thời chúng ta của Puskin sẽ thấy cũng 1 con người, có khi thì hiên ngang ngạo nghễ, có khi lại cũng đớn hèn lắm

      3. vananh

        Chắc bác TN nói đến Geroi Nashevo Vremmeni (một anh hùng thời đại), cái ni của Lermantov chứ hỉ?

      4. ts

        Cứ nói về đao phủ cho nó lành! tự dưng lại đi tranh luận… Vào đây với các bác để thư giãn mà lại đau đầu hơn!!!

      1. Zhivago

        Cháu cảm ơn cô BD. Bài thơ ni thầy nào cũng làm nhiều người gọi cháu là “cộng sản” “hồng vệ binh” “đấu tố” đây nhưng biết mần răng được, cháu nghĩ sao thì nói thế. Thôi nếu chỉ mình cô BD đồng tình thì cũng đủ vậy.

  33. Thu Không

    Việc người này thích thơ, người kia ghét thơ CLV là việc bình thường. Nhưng hai bài viết của TMH về CLV là hai bài tuyệt đúng, tuyệt hay…Các bác đọc kỹ mới thấy

  34. HÔ THƠM

    to : Ngo thu le @ .Theo tui ” lựa” ở đây là lựa chọn , chính xác đứt đui con nòng nọc rùi đó các bác ơi . Nhà thơ Xuân Sách dùng từ “lựa” hay như thế còn đòi gì nữa . Dưới ánh sáng của đảng ( ánh sáng của đảng cũng có nhiều loại , nhiều màu , rất phong phú , tha hồ cho lựa chọn ) nhưng lựa mấy màu “chiếu ” trên đầu đấy thôi, nhà thơ Chế Lan Viên tha hồ lựa cho phù hợp với “phù sa” ở dưới chứ các bác hè ! Còn mấy bác Phùng Quán,Trần Dần, Hoàng Cầm, Lê Đạt, Hữu Loan … lựa không ra màu nào thì … đi chỗ khác chơi . he he… Tóm lại , nói chi thì nói , nhà thơ xuất sắc của Việt Nam ,Chế Lan Viên sống mãi trong lòng tôi với tác phẩm Điêu Tàn mà thôi

  35. minhlythao

    Bao nhiêu năm CLV làm cài miệng cho người khác, khi về già muốn làm cái miệng của mình thì đã muộn. Bi đát quá

    1. Dong

      Chuyện ấy thì 99% mọi người thời ấy phải làm như thế, tức là nghĩ một đàng, sống một nẻo, nhà văn còn phải “nói một hướng” nữa.
      Nay cũng thế, cứ gì hồi ấy. Người thường thôi, bơm vá xe ngòai đường mà nói “bậy” còn mang họa, nhà văn nuôi cả mình cả vợ con cả cha mẹ già bằng bút, côn đồ tự phát nó giằng bút khỏi tay là đờ oi đoi.
      Tâm trạng đau đáu Tây Nguyên, Hải đảo mà bút thì hướng về sàn nhảy, tình tay ba…không bi đát vạn lần ?

  36. Lê Hùng

    Qua các di cảo, tùy bút, hồi ký của những nhà thơ, nhà văn cao tuổi, có người đã khuất, có người còn sống, mình nhận thấy phần lớn đều cho rằng văn nghệ cách mạng sau 1945 bao gồm đa số văn nghệ sĩ vâng lời, làm theo, phải đạo… Bây giờ, quí vị văn nghệ sĩ đã nhận thức rõ điều đó, sao vẫn chưa xuất hiện những tác phẩm hay, phản ánh đúng và đủ những tâm tư, ước vọng của người Việt Nam, của dân tộc Việt trong trong hoàn cảnh nhiều ba đào, lắm nhiễu nhương! Một việc cụ thể và đáng ngạc nhiên là Hội Nhà văn Việt Nam vừa kết nạp hội viên mới, trong đó có một số cây bút rất “trung bình”, viết cứ nhạt nhẽo, không ra sao hết. Chuyện này gần giống như hội nông dân, thấy anh ấy có “trồng cây gì, nuôi con gì” thì kết nạp vô hội!

    1. Dong

      Tâm trạng @LeHung cũng là của nhiều người. Nhưng cũng nên hiểu một thực trạng là các nhà văn sau khi được ” cởi trói ” ( Cởi nửa vời thôi ) thì vẫn không viết được những tác phẩm hay, theo tôi nghĩ là do đã quen với lối viết cũ bao năm nay rồi. Số NV trẻ thì thiếu vốn sống, bởi xã hội VN hiện nay thọat nhìn thì tẻ nhạt lắm ngòai những chuyện yêu đương nhì nhằng, mánh mung lặt vặt, tranh chấp lối đi…chẳng có ai gọi là ” nhân vật của thời đại ” để từ đó làm xương sống cho tác phẩm.
      Những cơn sóng ngầm trong một bộ phận xã hội, hay trong gia đình, trong mỗi cá nhân đều đáng viết, nhưng lý giãi cho những “con sóng” ấy, nếu không sa vào lối lan man phân tâm chán chường, tham vặt…mà truy hết ngọn nguồn thì sẽ “phạm húy” vì đụng chạm, ít nhất là đụng đến “cơ chế”, cái cơ chế vận hành xã hội là nguyên nhân sâu xa của khá nhiều bi hài kịch hiện nay, nhưng nói đến cơ chế là đụng đến lãnh đạo cấp cao, là vi phạm luật và…
      Vậy nên chẳng ngạc nhiên khi ta bắt gặp những tác phẩm lan man hồn bướm mơ tiên hoặc vòng vèo quanh quẩn rồi …tắc tị. Lối viết nhiều sáng tạo, cuốn hút, nhưng cốt truyện thì…nhạt nhẽo và sáo rỗng, bởi cuộc sống đã được phản ánh…méo xẹo.
      Thời các cụ CLV, NK…tuy bị viết theo đơn đặt hàng, nhưng người kiểm duyệt, biên tập lại có Tâm và có trình độ, nên vẫn có nhiều tác phẩm rất hay, hấp dẫn, sinh động và mang hơi thở cuộc sống rõ ràng.
      Nay tôi có cảm giác là những nhà quản lý mắc hội chứng…lười. (Liếc qua, thấy nội dung hiền hiền, không đụng chạm Trường Sa-Hòang Sa, không nói xấu anh Hai, không lên án tàu Lạ, không viết về bauxite ( Trừ lối viết anh Lã ), không kêu gọi phản biện, không chống lại chính sách, không khiêu dâm….là cho qua, còn lại là gạt, gạt cho nó an tòan, bởi cả giám thị và thí sinh nếu không khéo là ngồi chung phòng chờ cơm ngày 2 lần liền. ) Lười và không yêu văn học, nên chẳng bao giờ có một cuộc đấu tranh để bảo vệ cho tác phẩm này, cổ vũ tác phẩm kia hay đỡ đòn, che chắn giúp tác giả nọ.
      Ý kiến cá nhân, nếu có trái chiều với bác nào ở đây thì xin được lĩnh ý các bác.

  37. Vân Vi

    hai bài viết quá sắc sảo và quá tình cảm, đọc cảm động lắm. TMH đã vẽ ra chân dung văn học và chân dung con người CLV một cách rất trung thực và sống động. Cám ơn các bác và bác chủ chiếu rượu

  38. Cú đỉn

    thưa bà con, em thấy bà con tranh luận hăng quá về nhân cách nhà văn. Em có đôi nhời quê mùa như ri: Ở ta, văn nghệ được coi như vũ khí của cách mạng, nên cách mạng sử dụng Văn nghệ sĩ như 1 chiến sĩ trên mặt trận văn hóa. Đã là mặt trận thì tất nhiên phải có tiếng binh đao chạm nhau, và không phải mấy cụ Chế, cụ XD, cụ NK thì sẽ có các cụ trẻ hơn đảm nhiệm trọng trách canh gác cánh cổng văn nghệ theo quan điểm của nhà nước. Và lúc ni chúng ta sẽ ngồi bình mấy cụ X, Y, Z có khi còn nảy lửa hơn bình mấy lão tướng trên mặt trận là cụ Chế, cụ XD, cụ NK.Em cam đoan với bà con rằng, có rất nhiều người đang , hoặc chuẩn bị viết “Đi tìm..” như cụ NK ..chuyện tạm dừng. Cụ phùng Quán khi còn sống có viết bài đăng trên Văn nghệ ( em nhớ không đúng thì xin thể tất) Thăm nhà thơ Tố Hữu. cụ PQ kể, ngày xưa vợ chồng tết đến có dịp đi qua nhà cụ TH , thấy xe con đỗ trùng trùng điệp điệp bên ngoài toàn Volga, Lada ( hồi nớ chưa có xe tư bản như bây chừ) đến “tết” cụ TH. Sạu này khi cụ TH đã nghỉ việc nước, tết đến vợ chồng PQ mới đến chúc tết cụ TH ( cụ PQ gọi cụ TH là cậu ). Không thấy ” ngựa xe như nước, áo quần như nêm” nữa. Vợ chồng cụ TH và vợ chồng cháu PQ , hàn huyên thế sự bên bàn trà nước, không còn cảnh người nhà phải sắp xếp bố trí đón khách như xưa nữa vì…..vắng khách. Cụ TH bảo với PQ , cậu chỉ muốn làm 1 người hát rong để đi khắp nơi đọc ” 30 năm đơì ta có Đảng”của cụ. Nói về sự khốn khó , nhưng ngang ngạnh của ông cháu PQ, cụ TH trầm ngâm : Thằng Quán nó dại…nghĩ một lúc cụ nói thêm..ờ mà cậu cũng dại. Nói về sự dại, khôn của con người thì nhiều nỗi niềm lắm, em xin miễn bàn ở đây chỉ biết người làm đến Tam công ( lời PQ) như cụ TH đến khi hết cờ quạt, võng lọng mới “ngộ ” ra thì mấy sự tranh đấu về văn học …vì một điều gì đó chưa định hình mà dẫn đến một vài nỗi oan gia cho vài người có thể hiểu và thể tất được
    Tin thêm : sau khi hồi kí “Đi tìm” của cụ NK được phổ biến rộng rãi trên mạng, gây bàn tán sôi nổi thì ít lâu sau VTV4 có 1 phóng sự truyền hình ca ngợi tài năng và cống hiến của cụ NK với lời lẽ hết sức trân trọng. Bà con tự hiểu lấy, em không rành chuyện ch chị, ch em.

  39. nhật lệ

    Đọc bài và những ý kiến bạn đọc,mình mạo muội góp vài dòng theo suy nghĩ chủ quan của mình.
    Mình chịu nhất ý kiến của Dr.Jivago khi tách biệt
    tài năng và nhân cách của CLV.Cái gì hay thì nhận
    là hay còn dở thì nói dở.Sự thực thế nào thì nói
    thế đó.Có lẽ không nên nhập nhằng làm gì ?
    Còn ý của danngucuden mình chưa hề được biết
    về “lỗ kim” như bạn nói.Thật ra,kinh thánh không
    phải được hiểu hoàn toàn theo nghĩa đen mà có
    khi phải hiểu nghĩa bóng.Chẳng hạn “người giàu
    có vào nước thiên đàng cũng khó như con lạc đà
    chui qua lỗ kim” là nghĩa bóng,ở đây Chúa dùng
    phép ngoa ngữ hay cường điệu hóa để nói rằng
    khó lắm,rất khó.Hay “khi con làm việc thiện,đừng
    cho tay trái biết việc tay phải làm” cũng thế,phải
    hiểu theo nghĩa bóng bẩy của văn chương.
    TMH.là người biết ơn nên phê bình CLV.ở mức độ
    đó cũng là hợp lý hợp tình.

    1. danngucuden

      Cảm ơn Nhật Lệ, hoàn toàn đồng ý với bạn về tính đa nghĩa của hình tượng văn học mà trong văn đàn người ta thường nói “ý tại ngôn ngoại”. Thực ra thì tui không hẳn muốn nói cái chuyện lỗ kim. Chuyện cũng đã hơn 2000 năm rồi, lại ở bên xứ Israel thì mấy ai mà biết rỏ! Ý là sau đọc bài của bác TMH thấy cao siêu quá. Món cao lương mỹ vị này trông hấp dẩn nhưng e khó xơi trên chiếu rượu bình dân của Bọ. Sợ nhiều người đến nhưng không dám nhắm thử làm mất đi cái thịnh tình của Bác TMH và Bọ Lập. Nên mạo muội xung phong góp ý một điểm nhỏ làm giảm bớt cái uy phong của bài văn để khuyến khích nhiều người hăng hái tham gia cho chiếu rượu quê choa lúc nào cũng đông vui, xôm tụ.
      Tui nghĩ Trần Mạnh Hảo không có ý muốn khoe chữ hay làm làm khó độc giả chúng ta. Hiềm vì thơ của Chế Lan Viên giàu chất triết lý và đa nghĩa nên khi phê bình không tránh khỏi việc dùng nhiều hình tượng triết học và điển tích văn chương, thậm chí đôi chổ ngoa ngôn, ẩn dụ.
      Người xưa nói “Đóng nắp quan tài định luận” thật đúng thay. Chế Lan Viên, rồi Nguyễn Khải và những nhà văn hóa khác nữa chui vô quan tài rồi mới dám dỡ nắp ra đưa cho người đời di cảo vì sợ không mấy ai thấu hiểu được mình. Thật đáng thương thay! Thật đáng sợ thay!

  40. em xinh

    @Cudin, doc cai com hom qua anh viet ve chi gi vi thich…suong nen lay Tay den, ex co nho la hoi 96 -97 o ben anh co nhieu tap chi dang truyen ngan: Nguoi dan ba khong ngoai tinh” theo em la hay lam, anh tim va post len cho ba con cung doc cho vui. Kinh anh

  41. Choa

    Cũng như Nguyễn Khải, Chế Lan Viên là người khôn ngoan khi biết mình là ”trứng” sao chọi lại với ”đá” ? Thời thế thế thời đành phải thế là câu châm ngôn hay, dạy người ta xử thế sao cho hợp lẽ. Ừ ! Thì cứ cho như người ta một thời lầm lỗi, nhưng còn biết sám hối cuối đời. Còn hơn khối kẻ biết tỏng tòng tong rằng tương lai như thế mà vì mưa cầu quyền lực cá nhân, vẫn đang tâm nướng dân đen để nhắm với rượu đó thôi ! Chuyện đời, bới móc lắm thì cũng vậy. Chẳng qua để người đời sau học được cái gì ích lợi mới là điều đáng nói.

  42. Doan Tran

    Chào các bác,
    ĐT nhớ trong một cái re com nào bọ trả lời là sau khi quechoa đạt 2 triệu lượt người xem thì trở lại thuần văn cho nó “lành”. ĐT nghe chữ “lành” thì giật mình vì nghĩ đến “Cây táo ông Lành”. Gần đây quêchoa có loạt bài của TMH tuy là thuần văn thật nhưng chả “lành” chút nào vì khách ghé quán tranh luận rất sôi nổi trong thế giới “ảo” chưa đã mà còn đòi gặp nhau ở cuộc đời “thực”.
    Hai bài của TMH ĐT đã đọc trên e-văn nhưng hôm nay ĐT lại thấy rất thú vị phần dẫn nhập của nhà thơ TMH. Nó cho ta thấy nhiều câu chuyện “behind the scene”.
    ĐT không nói về thơ, ĐT thấy ông TMH hơn ông CLV, NK etc… là chỗ ông nói ra những điều ông nghĩ khi ông còn sống và ông nói rất thẳng .Chúng ta không phải đợi người nhà ông công bố “di cảo” khi ông mất.
    Ông không thuộc diện “nền văn chương mặc áo thụng vái nhau”. Nhớ năm nào ông tranh luận về khiếm khuyết trong sách giáo khoa, chỉ với bô quần áo bình thường của một con người có trí tuệ sắc sảo ông đã làm cho bao cây đa cây đề, bao vị mặc áo thụng áo gấm sặc sỡ phải giật mình. Nhiều vị tranh luận không lại với ông dở lý sự cùn với ông “mày không có cái áo thụng nào mà đòi tranh luận “.
    Gần đây thấy ông làm nhiều món mồi khá ngon nhưng chả thấy những quán có giấy phép kinh doanh có dán tem của QLTT bày bán mà chỉ có ở quán quechoa. ĐT nghiĩ đã là nền “kinh tế thị trường” thì món ngon phải được bày bán khắp nơi cho mọi người nhậu mới phải chớ ! Tuy quechoa đông khách thật nhưng không phải ai cũng tiếp cận được. Chỉ mong cho ông sức khỏe vững vàng để tiếp tục cung cấp mồi ngon cho quán quechoa.

    1. Mèo Hen

      Tiếp lời ĐT, tôi cũng muốn nói lời cám ơn CRQC đã cho nhập đặc sản cực ngon và bày ra Chiếu làm mồi cho dân nhậu thưởng thức chơi.
      QLTT họ không vào mâm nhậu nơi bạn bè vui vẻ đâu ĐT ơi, họ chỉ quan tâm những quán kinh doanh thôi.
      Về kiểm tra Vệ sinh An toàn TP thì tôi tin là những món nhậu Bọ nhập về không chứa mê-la-min hoặc phụ gia độc hại như hàng của TQ đâu ĐT à!

  43. dangminhlien

    Bài của nhà văn TMH vẽ khá rõ cụ Chế có nhiều mặt đúng như cụ tự nhận
    Nhưng bác Hảo kết luận nâng cụ lên Niết bàn thi ca ở tầm các danh nhân Nguyễn Du, Nguyễn Trãi thì có lẽ hơi quá!

    1. Ngo Thu Le

      Anh giai dangminhlien ơi, đẹp trai hùng dũng, hào khí đùng đùng, sao còm lại hiền như con gái ?

  44. Vô Ngã

    Có đôi lời trao đổi với bạn Zhivago :
    Comment của bạn rất chân thành, rất có trí tuệ nhưng nó còn chưa thấu tình cho lắm. Bạn chưa phải sống trong thời kỳ quá ư ngột ngạt mà bác CLV và chúng tôi đã sống…Với lại, nhận thức của con người luôn là một quá trình, đi từ ngộ nhận này đến một ngộ nhận khác, vì chân lý là cái lý có chân. CLV có thể có lúc yêu đảng chân thành, nhưng rồi dần dà ông đã Nguyên Ngọc dù anh hùng thế mà ngày nay bác vẫn còn là đảng viên cộng sản, bác chưa hay không xin ra khỏi đảng vì bác ấy thấy đảng còn đại diện cho chân lý…Bác Hoàng Ngọc Hiến đổi mới thế mà vẫn ca tụng Bác Hồ là tình yêu và lẽ phải của dân tộc…thì sao nào ? Đừng đòi hỏi cao quá về một con người. Zhivago hãy đọc bộ di cảo thơ của CLV thì ắt biết. Chế có thể ác, có thể hèn, có thể …thế này thế nọ nhưng bộ di cảo thơ của Chế tác động đến người đọc rất lớn Zhivago à, đã tìm ra La-ra chưa ?

  45. Nguyên Đán

    “Lòng ta thành con rối
    Cho cuộc đời giật dây”
    ( thơ CLV)
    Mấy chục năm, từ ngày Chế cùng với Xuân Diệu, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Khải… đấu tố Nhân Văn Giai Phẩm, từ ngày Chế ca ngợi bác Mao :
    ” Bác Mao không ở đâu xa
    Bác Hồ ta đó chính là Bác Mao”
    Thì CLV luôn là con rối để đảng giật dây…
    May mắn thay, khi chết đi, CLV còn để lại bộ thi ca di cảo tuyệt vời sám hối, tuyệt vời chân thành “lộn trái” cả tâm hồn với những ngụy chân lý mà một đời ông ton hót ( chim hót trong lồng)…Chỉ cần bộ di cảo thơ, CLV đã trở thành nhà thơ lớn nhất thế kỷ 20 như TMH đã viết. Cám ơn ông TMH đã viết hai bài khảo luận ( tiểu luận) cực hay, cực kỳ mẫu mực. Nếu đưa hai bài này vào dạy ở đại học thì phúc cho sinh viên khoa văn lắm thay

  46. Zhivago

    “Phe thù Chế Lan Viên chính là phe đổi mới theo ông Nguyễn Văn Linh cởi trói cho văn nghệ và trí thức. ( Ông Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh đã công khai thừa nhận đảng trói văn nghệ sĩ và trí thức khá lâu rồi, nay ta làm cách mạng cởi trói). Sau khi đảng thấy cởi trói cho các nhà văn là hớ, là lợi bất cập hại, liền trói đám cầm bút lại cho dễ quản lý. Chế Lan Viên đã thực hiện lệnh của đảng mà gây chiến với Nguyên Ngọc và Hoàng Ngọc Hiến bằng đao pháp tưng bừng khói lửa trên báo Văn Nghệ. ”

    ***********
    Đọc những dòng này, cháu cảm thấy thất vọng về con người CLV lắm lắm!!! Ông có tâm hồn của một nhà thơ, có lương tâm của một con người, (và theo bài viết của bác TMH thì hẳn ông am hiểu triết học), tại sao ông lại có thể viết những bài viết như vậy? Tại sao? Ông có thể làm một bài thơ trả lời tại sao không?

    Ừ thì “Chỉ sau khi Chế Lan Viên mất, ba tập thơ di cảo khổng lồ của ông được nhà văn Vũ Thị Thường ( là vợ) công bố, trưng ra một Chế Lan Viên khác, một Chế Lan Viên phản Chế Lan Viên, một Chế Lan Viên dùng thơ để phản biện chính trị, để nói toẹt ra rằng ông đã bị lừa ( bài “Bánh Vẽ”), ông đã có tội với nhân dân ( bài “Trừ đi”- các ông Cộng vào thì Chế ta Trừ đi ), ông đã đi nhầm đường…”

    nhưng nếu CLV nghĩ được như vậy thì tại sao ông lại có một cuộc bút chiến với những nhân vật đòi cải cách khi ông còn sống????

    Khi sống ông viết cho Đảng, khi chết ông mới cho xuất bản “một CLV khác”, xin lỗi các bác, cháu không nghĩ ra một cụm từ nào lễ phép hơn, nên xin nói toẹt cái cháu nghĩ: bắt cá hai tay, được cả chì lẫn chài! Khi sống thì được lòng Đảng, khi chết vẫn để lại tiếng thơm trong nhân dân là tiến bộ.

    Nếu CLV không “cứng đầu” được như Trần Dần, Hữu Loan, những vị Don Quixote đánh nhau với cối xay gió “Thôi thì bà với các con chịu khổ để cho tôi được sống lương thiện. Tôi mà chịu khó hót thì nhà lầu xe hơi sung sướng đấy, nhưng tôi không làm được” “Làm nhà văn khó lắm. Viết vừa lòng nhà nước thì dân chửi, viết vừa lòng dân thì đi tù như chơi. Thôi tôi về đi cày”. (blog Osin) thì ít nhất cũng chọn cách im lặng mà tránh họa như Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyên Hồng chứ. Sao ông có thể hành động như vậy?

    Tên tuổi một tác giả lớn cũng như một thương hiệu. Sở dĩ các bài viết đánh Nguyên Ngọc, Hoàng Ngọc Hiến của CLV có sức nặng một phần lớn là vì nó thuộc “thương hiệu” CLV. CLV khi viết những bài đó có nghĩ rằng mình đang “đánh lừa” nhân dân, những con người đói khổ và tin yêu ông? Bản thân ông biết thế nào là “bị lừa” tại sao ông lại “lừa” nhân dân?

    “Tất nhiên, kẻ chiến thắng là người của đảng.” cái chiến thắng này chỉ làm CLV nhỏ đi trong mắt cháu thôi. Đó là một cuộc chiến mà vòng nguyệt quế thực sự lại thuộc về kẻ thua. Thà thua còn vinh dự hơn thắng. Và nhân loại tiến lên bởi có những con người sẵn sàng chiến đấu và thua như vậy, chứ không phải bởi các tập “di cảo”.

    Socrates không hề viết lách. Ông dạy lớp trẻ bằng chính hành động của mình và chúa Jesus cũng vậy. Bởi sống cũng là triết lý vậy.

    Thấy được cái tốt cái, đẹp là một chuyện. Nếu bênh vực nó thì rất đáng ngưỡng mộ, nếu im lặng vì sợ cường quyền mà không dám làm vậy thì rất đáng thông cảm. Nhưng thấy được cái tốt, cái đẹp mà đánh nó thì gọi là gì? Liệu tiếng nói sau khi chết có bù đắp lại được không?

    CLV có thể để lại 3 tập di cảo, hay 300 tập đi nữa, với những lời lẽ ý tưởng tiến bộ đến mấy, thì những gì ông đã làm với Nguyên Ngọc, Hoàng Ngọc Hiến cũng thuộc về một phần nhân cách ông, tâm hồn ông như da thịt thuộc về cơ thể vậy, dù nó xấu hay đẹp, không thể tách rời. Và có khi cái phần này lại quan trọng hơn, vì nó “dính” vào ông từ khi ông sống, khi ông phải trả giá cho các hành động của mình.

    Khi không phải trả giá (như sau khi chết chẳng hạn) thì con người ta tha hồ nói hay nói đẹp, nhưng nhân cách chỉ bộc lộ khi con người phải trả giá vì lựa chọn của mình. Di cảo có thể cho thấy tài năng của CLV, nhưng nói về nhân cách, thì phải xét những hành động khi ông còn sống. Nhân cách đáng trọng hơn tài năng, vì con người ta phải trả giá để có nhân cách tốt, nhưng tài năng thì là một cái gì trời phú, cũng như sắc đẹp vậy. Và tài năng không có nghĩa lý gì khi không có nhân cách đi kèm.

    Kết bài, cháu xin trích lại một câu của Aristotle: không phải nhân cách tạo ra hành động, mà hành động tạo ra nhân cách.

    *******
    Nhân đây, là một người dân, cháu cũng xin gửi lời cảm ơn đến các bác Nguyên Ngọc, Hoàng Ngọc Hiến (không biết các bác có đọc blog QC không nhỉ). Đất nước và nhân dân cần những người như các bác, những con người sẵng sàng chiến đấu với dòng máu nóng trong mình, vì lẽ phải, vì lý tưởng mà mình tin và sẵng sàng trả giá, những con người thực sự đứng về nhân dân; cháu không cần những thiên tài sẵn sàng đánh lừa cháu, bán rẻ niềm tin của cháu, họ vĩnh viễn không thuộc về nhân dân bởi yêu cái gì tức là sẵn sàng trả giá vì nó.

    Và các nhà xuất bản làm ơn nói rõ về các thiên tài này trên trang bìa để cháu đừng bao giờ mua nhầm sách của họ, dù trong sách lời hay ý đẹp đến mấy.

    1. em xinh

      @Dr. Zhivago : ”Bắt cá hai tay, được cả chì lẫn chài! Khi sống thì được lòng Đảng, khi chết vẫn để lại tiếng thơm trong nhân dân là tiến bộ.

      Bản thân ông biết thế nào là “bị lừa” tại sao ông lại “lừa” nhân dân?

      Nhân loại tiến lên bởi có những con người sẵn sàng chiến đấu và thua như vậy, chứ không phải bởi các tập “di cảo”.

      Làm nhà văn khó lắm. Viết vừa lòng nhà nước thì dân chửi, viết vừa lòng dân thì đi tù như chơi. Thôi thì bà với các con chịu khổ để cho tôi được sống lương thiện”.

      The best of Dr.Zhivago
      Ex nga mu kinh chao Dr. Tuyet dieu, tuyet dieu

    2. Keke

      Nếu có giải Nobel văn học cho comment thì mình sẽ nghiêng mình kính cẩn đề nghị trao tặng cho bạn Zhi vì cái còm này.

      Không thể vin vào câu “Buông dao xuống là thành Phật” để cả đời làm việc ác rồi trước lúc nhắm mắt xuôi tay xưng tội là lại thành trong trắng như như con cừu được. Ai cũng thế thì thế giới này sẽ đi về đâu?

  47. Phản ts

    NÓI VỚI TS:
    Ts bảolà :”em hông có sở trường gì ráo, nhức đầu quá! ” – OK, không biết gì thì dựa cột mà nghe nhé , đừng có chờ người ta đưa bài viết lên là nhảy vô dẫm đạp phá đám… Hông biết gì sao biết có chỗ khiên cưỡng lên gân ? Dẹp Ts đi.

    1. ts

      @Phan ts:Có vẻ bác đang nói với ts???
      ts mới ghé vao QC uống ké chưa được 3 tháng, trước đây chưa bao giờ vào bất kỳ một blog nào đừng nói là văn chương. Thơ CLV đọc từ lâu rồi( có đọng lại 1 chút) còn bác TMH ts mới biết khoảng 2-3 tuần do đọc bài trên CRQC còn hoàn toàn ko biết bác này chứ đừng nói là tác phẩm của bác í(ts cũng xin lỗi bọ Lập và tất cả các nhà văn, nhà thơ vì ts chẳng quan tâm gì đến nền văn nghệ nước nhà)…ts chẳng làm gì liên quan đến văn thơ nhưng đôi lúc vì nhậu nhẹt có ngồi với 1 số đồng nghiệp của các bác và cũng được chứng kiến các bác í nhả ngọc, phun châu…Công bằng mà nói cũng vui lắm… nhưng thực sự là hơi văng mạng. Trên bàn nhậu vì vui, ai cũng có thể nói phét, ai cũng là sao làm cho các cháu nhỏ tuổi cứ há hốc miệng…nhưng những người từng trải thấy nó rất khó giải thích…ts nghĩ các bác có thể nói nói về tâm hồn,về tình yêu, về giai điệu, nỗi ám ảnh, sự đam mê… các bác có thể bay bổng, thăng hoa…tất cả mọi người trong đó có ts đều vỗ tay tán thưởng nhưng khi so sánh với càn khôn, vũ trụ…Christ, Thích-ca Mâu-ni…thì nó lại trở thành hài hước…mặc dù có thể bàn luận, tranh cãi về những điều này…Đằng sau ts là vực thẳm, chẳng có cái cột nào để dựa nên dù không hiểu biết ts vẫn phải đóng góp ý kiến với bác!
      Đây là cảm nhận của ts chứ không có ý công kích riêng ai vì cũng chẳng để làm gì…nhưng vì bác phan ts cứ nói…nên ts phải trả lời…nếu có gì quá lời,động chạm đến ai mong cho tất cả các bác, các bạn, anh em trong chiếu rượu tha lỗi!!! Xin lỗi cả bác TMH nhưng là người hiểu biết chắc bác cũng hiểu đây là góp ý chân thành…

  48. Ngàn Khơi

    Bạn ts chê hai bài của TMH là đao to búa lớn thì đấy là quyền của bạn. Nhưng Ngàn Khơi thấy hai bài viết này nhà thơ TMH viết bằng giọng văn ( có pha triết chút đỉnh) dịu dàng, thầm thĩ và sâu đằm, chẳng thấy dao to búa lớn ở đâu cả. Chắc ts vẫn ác cảm với bác TMH vì bác từng phê bình các thầy ts dốt văn, làm GS, GS.TS mà chẳng hiểu văn chương ra sao; ví như ông GS. Nguyễn Đăng Mạnh nói văn chương là vật vô tri, bài thơ “Mời trầu” của Hồ Xuân Hương là mắng trầu, một bài thơ chửi, tư tưởng nghệ thuật trong văn Nguyễn Tuân là ngông …vậy…Còn GS. Trần Đình Sử phân tích câu thơ Tố Hữu : “Đôi con diều sáo lộn nhào tầng không” thì bảo là con diều hâu và con sáo sậu bay song đôi trên trời…TMH đã chỉ ra hàng mấy trăm điều sai trái của các GS hàng đầu khi viết sách giáo khoa, nên có hàng vạn học trò các đại sư phụ còn căm bác Hảo

    1. Zhivago

      Mỗi người có một cách nhìn nhận riêng, một cách nghĩ riêng, thậm chí một con người trong những thời điểm khác nhau cũng có những nhìn nhận khác nhau. Mình tôn trọng cách cảm của bạn, nhưng nếu ts nghĩ khác bạn thì bác ấy cũng có lý riêng của bác ấy như đã trình bày, sao bạn không phân tích xem bác ấy lập luận thế nào mà lại chủ quan “Ngàn Khơi thấy…….” và đi đến một lý giải “cá nhân”: “Chắc ts vẫn ác cảm với bác TMH vì bác từng phê bình các thầy ts dốt văn, làm GS, GS.TS mà chẳng hiểu văn chương ra sao”.

      “Ngàn Khơi thấy” là một chuyện, và người khác thấy là chuyện khác.

    2. ts

      Hì hì! Bác suy luận rất là hài hước! ts chả phải là ai cả và hơn chục năm rồi chẳng đọc tí văn thơ nào của VN cả- Có lúc được TG tặng mà còn không đọc( gần đây có đọc trên QC 1 tí). Tóm lại là không dính dáng đến văn, thơ để mà yêu hoặc ghét! Về cái bài của bác TMH ts chỉ nói 1 số đoạn mà ts cho là lộng ngôn hay dân gian gọi là nổ(có thể là thăng hoa quá)…còn lai ts vẫn khen cơ mà(ts không viêt được như thế!)!!! Bác TMH có thể là thần tượng của bác, được bác rất yêu quí…nhưng bác ấy có phải là thánh đâu…thôi…chả muốn nói nữa!

  49. Mỹ Nữ

    Hai bài viết của TMH cho người đọc hiểu thêm về CLV. Tính cách , cuộc đời , bi kịch và sự nghiệp của Chế tiên sinh khiến cho người đọc tưởng chừng như bóng dáng của Trần tiên sinh. Hiểu nhau đến dường ấy chỉ là vì hai vị NGANG TÀI NGANG SỨC !
    Xin cảm ơn bài viết tài hoa lịch lãm của bác TMH và xin cám ơn bọ Lập cho chúng tôi những phút giây thăng hoa cùng văn học .

  50. Cỏ Cú

    Đọc được đoạn này :”Chế Lan Viên, xin ông hãy yên trí làm vườn lan nhà họ Chế ở bên kia biển, bên kia trời siêu hình; bởi trên đời này, người yêu ông, kính trọng và khâm phục ông nhiều vô kể. Những người không ưa ông còn ở trong quá khứ. Nhưng ông và thơ ông đã bay về phía tương lai của con người! – Cỏ Cú tui thêm kính phục và thương nhà thơ CLV và cả nhà thơ TMH. Họ là những người bị không ít kẻ dèm pha. Chỉ có tương lai mới trả lời chính xác được . Đây là bi kịch số phận của những tài năng !

  51. Ngo Thu Le

    Mời các bạn đọc thêm bài thơ của Xuân Sách về Chế Lan Viên:
    Điêu tàn ư? Đâu chỉ có điêu tàn
    Ta nghĩ tới vàng son từ thuở ấy
    Chim báo bão, lựa chiều cơn gió dậy
    Lựa ánh sáng trên đầu mà thay đổi
    sắc phù sa
    Thay đổi cả cơn mơ,
    ai dám bảo con tầu không mộng tưởng
    Mỗi đêm khuya không uống một vầng trăng
    Lòng ta cũng như tầu, ta cũng uống
    Mặt anh em trong suối cạn Hội nhà văn

    “Lựa ánh sáng trên đầu mà thay đổi sắc phù sa”. Câu thơ vừa sắc nhọn vừa có một tầm khái quát ghê gớm quá. Nhưng từ “lựa” mình không thích lắm vì CLV có quyền lựa chọn gì đâu. Xin tạ lỗi với vong linh nhà thơ Xuân Sách cho em đọc theo ý em như thế nầy: Nhìn ánh sáng trên đầu mà thay đổi sắc phù sa.

    1. gpsvn

      Em không nghĩ là lựa chọn. Lựa ở đây có nghĩa như là “lựa sóng theo chiều” hay con đò lựa sóng vào bờ; với nghĩa nương theo chiều sóng.

    2. gpsvn

      Ánh sáng trên đầu không phải là không thay đổi, lúc thì gay gắt, lúc thì nhạt dịu, khi thì ráng đỏ, khi thì chói chang; vì thế mà phải lựa, phải nương theo mà thay đổi. Chứ khư khư chọn lấy một màu, lúc ánh sáng thay sắc thì thậm nguy.

      1. Ngo Thu Le

        “lựa” ở góc độ nào cũng có sự chủ động, “nhìn” để làm theo là hoàn toàn thụ động… Trong dàn nhạc văn chương sau năm 1945, CLV chỉ là một nhạc công xuất sắc…

    3. em xinh

      @NTL ”Nhưng từ “lựa” mình không thích lắm vì CLV có quyền lựa chọn gì đâu”.
      Tai sao lai khong co quyen lua chon ho ban TL, co ai bat cu CLV lam vay dau??

  52. khuong _khuong256@yahoo.com

    Đọc Chế Lan Viên từ tâm thức họ Trần tôi có cảm giác như anh đang viết về một cái góc nào đó của chính anh, máu thịt trộn lẫn với cái điêu và cái tàn để làm nên một sự bất diệt. Cám ơn nhà thơ TMH. Sự trải lòng của anh chắc chắn sẽ được người Việt chân chính đón đợi chân thành.

  53. Vô Ngã

    Văn phê bình mà viết đầy cảm xúc, đầy trí tuệ, cám ơn ông TMH. Chỉ cần qua hai bài viết, đủ biết trình độ nhà thơ CLV và nhà phê bình TMH ngang sức ngang tài. Cám ơn anh Lập đã cho in bài rất giá trị văn học này.

  54. Nhí Nhảnh

    Thơ CLV đã hay, lời bình TMH còn hay hơn. Chế Lan Viên tài hơn Tố Hữu nhiều. Tiếc thay, sinh thời, họ Chế đã viết mấy bài đề tựa cho thơ Tố Hữu, bốc ông này lên mây xanh…

  55. TUANLE

    Cảm ơn Bọ đã đăng bài của TMH, đọc đi đọc lại vẫn không vơi cảm xúc, hiểu thêm về Chế Lan Viên, tài năng thơ của VN. Cũng như Nguyễn Đình Thi và Nguyễn Khải, Chế Lan Viên mang đầy mâu thuẫn trong người, mà đến trước khi mất nó mới phần nào giải toả được mâu thuẫn của cuộc đời. Cuộc đời đầy khổ đau và mâu thuẫn của Chế Lan Viên là một bể khổ, nhưng cũng nhờ có nó, nền thơ ca VN mưói có được những vần thơ trác tuyệt.

  56. ts

    Bác TMH viết bài này làm ts đau đầu quá! Thơ ca và triết học là những thứ không phải sở trường của ts nhưng ts có cảm tưởng TMH đao to búa lớn quá chăng?
    “Chừng như niềm hư vô như một con mọt đang ăn rỗng ngực ông như nó từng ăn rỗng cả vũ trụ”….”Giờ đây, ở thế giới bên kia, bằng sợi chỉ duy vật, hẳn là Chế Lan Viên đã xâu được cái lỗ kim tôn giáo, cái lỗ kim vô hình mà con lạc đà trong Kinh Thánh không thể nào chui lọt.”Bác danngucuden vừa nhắc tới…”Lấy màu vàng sắc không nhà Phật nhuộm lên thi pháp Beaudelaire, kết hợp linh diệu Christ, sắc không nhà Phật và niềm hư ảo Ấn Độ giáo Tháp Chàm,” và một số đoạn khác nữa…những kiểu nói này, vào những lúc trà dư, tửu hậu cũng nhiều người bốc đồng đã nói nhưng sau đó người nghe chẳng ai nhớ được cả…Thực sự, dân văn nghệ nhà mình không giỏi lý luận với triết học…khi nói lại khiên cưỡng, lên gân nên nó cứ làm sao ấy!!!

    1. Zhivago

      Dù cháu nà fan của bác TMH thì cháu cũng xin đồng ý hai tay với bác TS. ”Lấy màu vàng sắc không nhà Phật nhuộm lên thi pháp Beaudelaire, kết hợp linh diệu Christ, sắc không nhà Phật và niềm hư ảo Ấn Độ giáo Tháp Chàm,” nghe nó cứ… thập cẩm thế nào ấy. Cháu không có rành văn chương chữ nghĩa cũng như triết học nhưng cháu có cảm giác bác nói đúng: “Thực sự, dân văn nghệ nhà mình không giỏi lý luận với triết học…khi nói lại khiên cưỡng, lên gân nên nó cứ làm sao ấy!!!”

      Nhưng cháu thấy bài viết của bác TMH hay ở chỗ thẳng thắn thừa nhận những điểm yếu trong con người nhà thơ CLV cũng như thơ CLV; không ca ngợi “vô tội vạ”.

      1. ts

        Nhiều đoạn bác ấy bình rất hay và tình cảm mà chắc chắn nhiều bác sẽ đưa lên ts không đủ xúc cảm và trình độ nên không dám!!!

  57. KHÚC CHÍ DŨNG

    Vâng,tôi cũng đã từng biết một Chế Lan Viên như TMH nói. Ông “đáo để” ngay cả khi trăng trối trong thơ cũng như khi dặn dò Phan Thị Vàng Anh ;”Con phải học; cố mà học. Học để sau này không ai có thể “giết” được con..”

    1. Hồng Chương

      Đúng rồi, tôi cũng nhớ Phan Thị Vàng Anh có nói đại ý như vậy trong bài viết về cha mình. Nhưng phải cỡ chục năm sau tôi mới hiểu được lời dặn của cụ Chế, và hiểu rằng cụ thương con lắm.

  58. Đèn Cầy

    GỞI MOCCHAU CÓ NHỮNG LỜI KHIẾM NHÃ – Mocchau viết : “Có vẻ ông này hơi bị điên và có tính rủ rê.Lạy trời!cho tôi kô phải đọc 1 mẩu thơ nào của ông ấy.” ??????
    Tôi là người đọc , ngạc nhiên và hết sức bất bình vì lời viết của Mocchau, không hiểu là bạn nói ai ? CLV hay TMH? Nhưng nếu nói về ai thì bạn là người quá thô lỗ và vô văn hoá. Nghe một người ca sĩ hát xong , người lịch sự còn phải vỗ tay kia , huống hồ đọc hai bài viết máu thịt , rất hay và giá trị của nhà thơ TMH?? Và huống hồ chi chúng ta thừa kế di sản tinh thần quá to lớn của CLV?? Những phát ngôn vớ vẩn và vô trách nhiệm thế này xin nhà văn Nguyễn Quang Lập xoá đi cho khỏi vướng mắt !

  59. Nguyên Đán

    Hai bài này rất hay. Đọc cảm động lắm. CLV sinh ra trên đất Quảng Trị trung tâm của quêchoa đấy : Bình Trị Thiên. Nhưng Bình Định quê tôi cũng có chút góp phần : CLV trưởng thành tại xứ Ma Hời Bình Định

  60. danngucuden

    Cảm ơn nhà thơ Trần Mạnh Hão, quả là danh bất hư truyền, bút lực vô song. Rất ngưỡng mộ. Tuy nhiên chỉ đọc để biết chứ không bình thêm được. Quả thật một nhà thơ lớn như Chế Lan Viên mà chỉ đọc được một vài bài thơ như tui đây thì khó mà khen hay chê dở. Nhưng có chổ ni góp ý:

    …..“Có lúc chỉ lọt vào rồi lại sẩy
    Xâu vừa xong gió tuột nửa chừng
    Lỗ kim…lỗ kim trước mắt”
    (Xâu kim)
    Giờ đây, ở thế giới bên kia, bằng sợi chỉ duy vật, hẳn là Chế Lan Viên đã xâu được cái lỗ kim tôn giáo, cái lỗ kim vô hình mà con lạc đà trong Kinh Thánh không thể nào chui lọt..” …..

    Chuyện cái lổ kim và con lạc đà trong Kinh Thánh đại khái như ri:
    “Có người hỏi Chúa “Người giàu có lên được thiên đàng không?” Chúa đáp rằng “Như con lạc đà đi qua LỒ KIM”. Nói như vậy có nghĩa là người giàu không lên được thiên đàng chăng? Không phải vậy. Đó là do người dịch sai mà ra. Chữ LỔ KIM mà Chúa nói là cái cửa nhỏ ở thành của nước Isreal ngày trước. Người ta mở cửa nhỏ này (gọi là lỗ kim) cho người trong thành tiện vào ra nên khó dắt lạc đà đi qua. Chúa muốn nói người giàu thì hay tham và ác nên khó lên được thiên đường chớ không có ý nói người giàu thì không lên được thiên đường.
    Người đời sau cứ hiểu chuyện lỗ kim là lỗ của cây kim khâu để xâu chỉ nên có rất nhiều người, nhất các đại gia, ngờ ngợ về lời của Chúa. An tâm đi nếu quý vị giàu có mà chịu chia sẻ với người nghèo để giảm bớt kích thước con lạc đà mình đi thì lỗ kim mô qua cũng lọt.
    Không biết nhà thơ khi viết đoạn thơ được bình trên nghĩ đến lỗ kim nào? Chớ nhà phê bình cứ quả quyết là ông dắt lạc đà qua lổ kim khâu thì tội cho nhà thơ quá!
    Kính

  61. mocchau

    Có vẻ ông này hơi bị điên và có tính rủ rê.Lạy trời!cho tôi kô phải đọc 1 mẩu thơ nào của ông ấy.

  62. Zhivago

    Bác TMH thử lý giải hiện tượng thơ CLV, còn iem thì thử lý giải tại sao em lại không thể thích được CLV. Thú thật, em không thích một chút nào.

  63. Quê Bác

    Lẽ ra…lại phải lẽ ra một cái!
    Cũng là một cách nhìn nhưng với Cụ Chế Phan, bác Hảo đã rất hảo khi nhìn Cụ.Có thế chứ bác Hảo?
    Lẽ ra…
    Mặc đời đổi “sắc phù sa”
    Mặc người cười nói còn ta ngẩng nhìn.
    Ngẩng lên cúi xuống cố tìm.
    Chút ánh sáng vốn đã tin nó rồi.
    Chiếu cho soi tỏ mặt người.
    Sáng câu ca như những lời Mẹ ru….

  64. Zhivago

    “Trong bài “Tự tìm mình” viết năm 1997, nhà thơ vừa tìm Mình, vừa hoài nghi Mình”

    “Như bài “…Và chiều thứ tư” ông viết năm 1997: “Cái individu anh có ba chiều không gian,”

    Liệu có sự nhầm lẫn ở đây không bọ? Năm 1997 thì CLV đã mất rồi.

  65. Zhivago

    “Hầu hết các nhà thơ mới, kể cả Xuân Diệu, Huy Cận, cái phần thơ hay nhất, đóng góp lớn nhất cho thi đàn lại là những thi phẩm ra đời trước năm 1945.”

    9 xác!!! Em rất yêu thơ Nguyễn Bính nhưng thú thực là thơ Nguyễn Bính sau 1945 nó cứ nhàn nhạt thế nào ấy.

  66. Dong

    Bất chấp những sóng gió cuối đời, cụ Chế vẫn lấy lại được vị trí rất cao trong nền Thơ ca nước nhà.
    Riêng về người viết là anh TMH cũng biết vì cái ơn cứu án và tầm vóc của cụ Chế mà viết một cách chừng mục, chỉn chu, lễ độ. Khác hẳn kiểu vãi hoa cà hoa cải trong bài về NV NK bữa trước. Vì vậy, bài viết có được giá trị đích thực về thông tin cũng như các ý kiến đánh giá về Thơ và Người.
    Ý kiến từ bác Tiến Đặng thỏa đáng lắm.

  67. Cú đỉn

    Kính thưa bọ và bà con quechoa. Em là người Kiến văn cạn hẹp, không dám “bình” nhiều , sợ nói dại đụng chạm đến nhiều điều, nhiều thứ. Chỉ xin đơn giản thế ni : Ngày xưa hồi đi học phổ thông, cứ như bị lạc vô cái “Mê hồn trận” của kính thưa các loại khái niệm , nào là tính Đảng, tính dân tộc, tính nhân dân, tính đại chúng, tính khoa học, tính hiện thực XHCN trong Văn học. Em hoảng loạn quá chẳng biết mô mà lần . Sau ni em có đọc được bài báo về giải thưởng cuộc thi thơ trên báo văn nghệ có tả đoạn cụ Xuân Diệu chê lời bình bài thơ được giải 2 của tác giả Hoàng Hữu, Cụ bảo vẽ chuyện, đã là thơ tình thì là thơ tình, sao lại còn có “Đây là 1 bài thơ tình XHCN”. Thú thật, đọc đến đó em mới “ngộ” ra nhiều điều, mấy cái “Tính” như trên em vừa kể biến sạch sành sanh chỉ vì câu nhận xét của một thi hào nước Nam là cụ XD. Sau ni em cũng có đọc, có nghe môt số chuyện bếp núc nhà văn, nhà thơ kể cả của 2 cụ XD và Chế Lan Viên. Các Cụ cũng làm một số chuyện ” ngoài thơ”mà quechoa và bác Hảo biết rõ hơn em. ( Tất nhiên hậu quả thì một số nhân vật phải gánh chịu cho đến ngày ni). Tuy nhiên mỗi khi đọc mấy câu thơ của cụ XD : Lòng em như bến đợi gốc cây già, tình du khách thuyền qua không buộc chặt. Nó sừng sững, vĩ đại bao nhiêu..thì kì lạ thay mấy câu sau cũng của cụ XD trong thời mới cho dù các nhà phê bình tầm cỡ nhất thời nớ ( chưa đổi mới) tán lên tận mây xanh ( em nghĩ chắc các nhà ấy không xấu hổ mà chính cụ XD mới xấu hổ nhưng lặng im) : Tổ quốc ta như 1 con tàu, mũi thuyền ta đó mũi Cà mâu….em cũng hiểu được chừ cụ làm thơ viên chức rồi. Đối với cụ Chế cũng vậy..nhũng câu thơ trong Điêu tàn, sau ni một vài câu, thí dụ như : Khi ta ở…, khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn thì đã “tạc” cụ Chế vô tượng đài những nhà thơ vĩ đạinhất nước Nam .,,,và cái chuyện cuối đời với “Di cảo”, khiến chúng ta thêm thương cảm, quý mến các cụ. Nếu em có quyền và có vị trí trong nền văn học nước nhà, em sẽ xin mọi người thể tất cho các cụ về những việc làm “không thơ” ấy bằng 1 lời xin lỗi chính thức và hơn thế nữa ” phục hồi” cho nhũng người ( ít nhất về danh dự) thiệt hại vì các cụ, để khi chúng ta đi trên đường XD hay CLV ( em không biết có chưa nhỉ) chúng ta có thể yên tâm và tự hào về những đóng góp của các cụ cho nền thi ca đất nước.

  68. Vân Vi

    Qúa hay, cám ơn ông Hảo và ông Lập.Đọc xong hai bài này mới hiểu và thương Chế. Trước đây, Vân Vi vô cùng ghét Chế.

  69. Tiến Đặng

    Những tiểu luận đáng đồng tiền bát gạo. Hơn đứt kha khá nhiều luận văn luận án với đủ các ban bệ chấm cháp…cấp nọ cấp kia. Đa tạ nhà thơ Trần Mạnh Hảo.

  70. Tuyết Nguyệt

    Miền Trung quê choa tự hào có hai đại thi hào dân tộc : Nguyễn Du & Hồ Xuân Hương, có các thi hào : Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Huy Tự, Chế Lan Viên, Huy Cận, Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Bích khê, Lưu Trọng Lư, Tế Hanh…Một số nhà thơ nổi tiếng khác như : Nguyễn Xuân Sanh, Phạm Hầu, Nam Trân…
    Đọc hai bài viết của ông TMH mới thấy quê choa có Chế Lan Viên, quả là một thiên tài dân tộc. Cám ơn ông TMH và ông NQL

  71. Gạo Cội

    May mà CLV còn có “di cảo thơ”, lời trăn trối thi ca chân thành nhất của ông gửi hậu thế…TMH là người viết về CLV hay nhất từ trước tới nay. Bọ cho anh em một bữa tiệc ngon tuyệt, cám ơn.

  72. mrxuanloc

    Bà con nhanh chân thế,không để XuanLoc bóc tem cái xem cảm giác thế nào?Bữa tối văn chương tuyệt vời,cóp về nhà mình đọc lại,bọ cho phép nhé ,chúc bọ và các còm vui vẻ

  73. Quê Người

    Khi 16 tuổi Chế đã ra cuốn thơ “Điêu Tàn” làm kinh dị nền thi ca Việt, một tập thơ đối thoại với Ma…Hời ( Không phải ma dỏm kiểu “Ma Thuật ngón”. Đi với cách mạng, kháng chiến, Chế là thiên tài của đảng. Chỉ khi chết đi, với “di cảo thơ ” đồ sộ, Chế mới trở thành thiên tài của dân tộc.
    Cám ơn nhà thơ TMH đã viết một công trình hay nhất từ trước nay về CLV. Cám ơn Bọ Lập đã cho in bài này.

    1. danchoa

      Chào Zhi. cùng bà con giành Tem và Bọ Lập.
      Bài này đọc chậm thôi, cứ nhấm môi nhẹ nhàng. Không thì bác Hảo mắng đấy. Bác viết kĩ hơn 100 bài trong 25 năm mà bà con ít để ý quá.

Bình luận đã được đóng.