Có phải tôi đã “chụp mũ” anh Hoàng Hữu Phước không?

Nguyễn Hồng Cổn *

       1. Mấy ngày nay thấy dư luận bàn tán xôn xao về ý kiến của đại biểu quốc hội Hoàng Hữu Phước (HHP) về luật biểu tình, tôi cũng vào mạng tìm đọc. Kết quả dùng  “Google search” với tên “Hoàng Hữu Phước”, tôi tìm được khá nhiều bài viết của HHP, trong đó có bài “ Chụp mũ – Về các phát biểu gần đây liên quan đến dự án luật biểu tìnhđăng trên trang web riêng của tác giả và được đăng lại trên Quê choa của nhà văn Nguyễn Quang Lập.  Điều thú vị là khi đọc bài viết này tôi phát hiện ra rằng hoá ra tôi đã biết đến HHP và được HHP nhắc đến trong bài viết của mình như là người đã “chụp mũ” HHP tại một hội thảo khoa học về giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt  (tổ chức tại Tp HCM vào tháng 6/2010). HHP đã kể lại chuyện này trong đoạn mở đầu bài viết của mình, nguyên văn như sau:

Khi đọc tham luận ngày 18-6-2010 tại Hội Thảo Quốc Gia về Giữ Gìn Sự Trong Sáng Của Tiếng Việt với đề tài “Giao Thoa Ngôn Ngữ Việt – Anh và Thực Chất Vấn Đề Giữ Gìn Sự Trong Sáng Của Tiếng Việt”, tôi có đề nghị cách làm cho Tiếng Việt trở nên dễ học hơn đối với người nước ngoài để nhanh chóng phát triển Tiếng Việt ra toàn cầu qua việc chỉnh sửa một số cấu trúc câu vừa hợp logic vừa giống văn pham câu tiếng Anh (thí dụ: đã “mặc dù” thì không dùng “nhưng”, để biến mệnh đề có “mặc dù”  thành mệnh đề phụ, còn mệnh đề theo sau là mệnh đề chính), v.v. Thế mà ngay lập tức có một vị tiến sĩ của Đại Học Khoa Học Xã Hội & Nhân Văn đăng đàn phản bác, chụp mũ nói tôi xúc phạm văn phạm tiếng Việt, dám đem văn phạm tiếng Anh ra làm chuẩn mực buộc tiếng Việt phải noi theo. Cần nói thêm rằng có vài trăm đề tài tham luận được đăng ký nhưng chỉ có khoảng 30 bài được chọn đăng vào kỷ yếu, số còn lại chỉ in tiêu đề và tên tác giả mà thôi. Bài của tôi, kẻ “ngoại đạo” chầu rìa bên ngoài ngưỡng cửa hàn lâm của ngôn ngữ Việt, được chọn đăng mà không có bài của vị tiến sĩ ấy; và vì được chọn đăng, tôi nhận được phong bì bồi dưỡng dày hơn. Trong khi có một vị còn nhớ đến tôi, nhà giáo cách nay hơn 20 năm, đến bắt tay chào, hỏi han, tâm sự về thế cuộc xoay vần của giáo dục nước nhà, thì đa số vẫn nhìn tôi ghẻ lạnh như thể tại sao một tên doanh nhân lại dám xuất đầu lộ diện giữa tháp ngà ngôn ngữ học”  (hết trích)

2.  Để quí vị thấy được “quan điểm khoa học” của HHP và sự thật có phải là tôi đã “chụp mũ” HHP hay không, tôi xin điểm lại nội dung báo cáo tham lụân của HHP trình bày tại hội thảo này (có đăng toàn văn trong Kỉ yếu Hội thảo “ Phát triển và giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt trong thời kì hội nhập quốc tế hiện nay”, tr. 213). Bài viết của HHP có 10 trang, chia làm 3 phần:  1. Bản chất của bản sắc, 2. Giao thoa ngôn ngữ Việt – Anh, 3. Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Mặc dù bố cục 3 phần cho oai như vậy nhưng cả phần 1 và 2  của bài viết chỉ có 1 trang, còn phần 3 chiếm tới 8 trang (1 trang còn lại là danh mục tài liệu tham khảo). Nội dung của bài viết, vì vậy, cũng tập trung chủ yếu ở phần 3, nơi HHP luận bàn về “giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt”, với 2 mục đáng chú ý là mục 3.2 (Các xâm hại kho tàng ngôn ngữ Việt) và 3.3 (Những biện pháp làm trong sáng ngôn ngữ Việt).

2.1 Ở mục 3.2 , dựa trên kết quả thống kê từ 2 bảng I (Nhóm tên quốc gia bằng Hán Việt được phép tiếp tục sử dụng sau năm 1975) và II (Nhóm tên quốc gia buộc phải dùng dưới dạng Việt hoá phiên âm từ 1975), HHP cho rằng việc tiếng Việt sau năm 1975 sử dụng tên Hán Việt của một số quốc gia (như Ấn Độ, Anh, Ba Lan, Bỉ , Thái Lan, Trung Quốc…) trong khi lại thay thế tên Hán Việt của một số quốc gia khác bằng tên phiên âm (Á Căn Đình > Ác-hen-ti-na, Ái – Nhĩ – Lan > Ai –len, Ba Tây > Bra-xin, Bảo Gia Lợi > Bun- ga- ri, vv) là thiếu cơ sở khoa học. Ở đây hoặc vì thiếu hiểu biết hoặc vì định kiến mà HHP không nhìn thấy cơ sở khoa học của giải pháp đã được nhiều nhà nghiên cứu, nhà văn hoá, nhà giáo dục hai miền cân nhắc lựa chọn:  Tất cả các tên nước ở bảng thứ nhất được đề nghị dùng tên Hán Việt  sau năm 1975 là bởi vì cách gọi này phổ biến và thống nhất ở cả hai miền từ trước năm 1975.  Còn các nước ở bảng thứ 2 giữa hai miền không có sự thống nhất về tên gọi:  miền Nam vừa dùng Hán Việt vừa dùng nguyên dạng (chủ yếu là tiếng Anh), miền Bắc vừa dùng phiên âm vừa dùng nguyên dạng. Trong bối cảnh mà các tên gọi Hán Việt cũ  (như Á Căn Đình, A Phú Hãn…) quá xa lạ với một nửa nước, còn cách viết nguyên dạng (Argentina, Afghanistan…)  còn khá lạ lẫm với đa số nguời Việt không biết ngoại ngữ, thì việc sử dụng các tên gọi phiên âm (Ác- hen- ti –na, Áp -ga-ni –xtan) là một giải pháp tình thế cấn thiết và như là bước quá độ hướng tới sử dụng các tên gọi nguyên dạng, theo nguyên tắc tôn trọng tên riêng của nguyên ngữ.  Chính nhờ cách viết/nói phiên âm này mà ngày nay nhiều người Việt dù không biết ngoại ngữ vẫn hiểu được khi nghe hoặc đọc các tên nước đó ở nguyên dạng.

2.2  Tuy nhiên, dù sao đây cũng là một vấn đề khoa học phức tạp. Và việc HHP không hiểu cơ sở khoa học của giải pháp được chọn lựa, vì vậy, cũng hoàn toàn có thể cảm thông.  Điều đáng nói là từ đây HHP để xuất “những biện  pháp làm trong sáng tiếng Việt” ở mục 3.3, với  2 biện pháp quan trọng là:  Hoàn thiện từ vựng học tiếng Việt theo bài bản Lexicology tiếng Anh (tiểu mục 3.3.1) và  Hoàn thiện ngữ pháp tiếng Việt theo bài bản ngữ pháp tiếng Anh.(tiểu mục 3.3.2).

Nói về vịêc “hoàn thiện từ vựng học tiếng Việt theo bài bản Lexicology tiếng Anh”, hoàn toàn không dựa trên bất kì một cơ sở lí thuyết và phân tích ngữ liệu nào, HHP kết luận khơi khơi rằng “sự trong sáng của tiếng Việt khó có thể được bảo vệ nếu những nội dung này (của Từ vựng học tiếng Việt – NHC) không được (a) viết lại dựa trên hệ thống mạch lạc của từ vựng học tiếng Anh và (b) phổ cập trong toàn bộ nền giáo dục quốc dân” , rằng “ sự tương đồng giữa ở đa số các hiện tượng ngôn ngữ giữa tiếng Việt và tiếng Anh còn giúp người Việt nắm vững tiếng Việt hơn, sử dụng tiếng Việt bài bản hơn, và củng cố thay vì quên tiếng Việt qua quá trình học tập tiếng Anh”. Nói tóm lại, theo HHP,  muốn bảo vệ “sự trong sáng của tiếng Việt”, muốn nắm vững và sử dụng tiếng Việt bài bản hơn, thì chúng ta phải biên soạn và phổ cập từ vựng học tiếng Việt dựa theo từ vựng học tiếng Anh. Hãy khoan nói đến vịêc HHP đã vận dụng từ vựng học (và cả ngữ pháp) tiếng Anh vào việc nắm vững và sử dụng bài bản tiếng Việt như thế nào (tôi sẽ quay trở lại vấn đề này ở mục 3). Nội chỉ theo nguyên tắc này, thì rất có thể một ngày nào đó sẽ có một ông HHP’, hay HHP” khác giỏi tiếng Pháp, tiếng Nga,…đưa ra khuyến cáo rằng “muốn bảo vệ sự trong sáng của tiếng Việt, muốn nắm vững và sử dụng tốt hơn tiếng Việt, phải biên soạn và phổ cập từ vựng học tiếng Việt theo từ vựng học tiếng Pháp, từ vựng học tiếng Nga.

Cũng với lập luận kiểu như vậy, HHP cho rằng sở dĩ người Việt viết sai ngữ pháp tiếng Việt là vì chưa nắm vững ngữ pháp tiếng Anh. Phân tích câu “ Cho dù nền kinh tế nước ta đạt mức tăng trưởng khá cao (…), nhưng ngày càng  có nhiều chuyên gia kinh tế đề nghị xem lại chất lượng và mô hình tăng trưởng”, HHP cho rằng câu này dùng thừa từ nhưng và như vậy là “sai (so với) văn phạm tiếng Anh”.  Trên cơ sở đó, HHP cho rằng “ngữ pháp tiếng Anh nên được dùng làm chuẩn để biên soạn mới ngữ pháp tiếng Việt” và lại kết luận khơi khơi rằng “việc chọn hệ thống ngữ pháp tiếng Anh làm cơ sở để thực hiện biên soạn đổi mới nội dung ngữ pháp tiếng Việt cũng có chung mục đích, hiệu quả và tiện dụng như đối với đề xuất về lexicology” (tr.217) . Đọc đến đây, tôi bỗng hiểu tại sao trong Việt ngữ học từng đã có người cho rằng người Việt nói “Cái áo này mới”, “Cô gái ấy đẹp” là sai mà lẽ ra phải nói “Cái áo này là mới”,  “Cô gái ấy là đẹp” như ngữ pháp tiếng Anh hay tiếng Pháp, nhưng đó là chuyện từ giữa thế kỉ trước. Rồi chợt nhớ tới GS. Cao Xuân Hạo, người đã một đời lao tâm khổ tứ cố gắng xây dựng một ngữ pháp tiếng Việt thoát ly khỏi quan điểm “dĩ Âu vi trung” của ngôn ngữ học Âu châu, và tự hỏi lẽ nào một người tự coi là thông tuệ như HHP trước khi đặt bút viết về ngữ pháp tiếng Việt lại không hề đọc lấy một dòng của Cao Xuân Hạo ? (quả thật, không có tên Cao Xuân Hạo trong danh mục tham khảo của HHP)

3.  Trên đây là những luận điểm chính trong “công trình khoa học” mà HHP tự hào là đã được đăng toàn văn vào kỷ yếu hội thảo và được nhận “phong bì dày hơn” người  khác (thực ra còn một số vấn đề khác như vấn đề dấu gạch nối nhưng vì độ dài của bài viết nên tôi không đề cập ở đây). Giá trị khoa học của “công trình” cũng như kiến thức của tác giả HHP xin để các nhà chuyên môn và bạn đọc phán xét.  Sau đây tôi xin quay trở lại vấn đề đã đề cập ở trên:  phải chăng nhờ giỏi Anh ngữ và nắm chắc từ vựng học và ngữ pháp tiếng Anh mà HHP “nắm vững và sử dụng tốt tiếng Việt” và nhờ đó làm cho tiếng Việt “trong sáng”. Xin quí vị đọc một vài câu sau đây được trích dẫn nguyên văn từ bài viết của HHP để thấy trình độ tiếng Việt của HHP và thấy HHP đã làm cho tiếng Việt trong sáng thế nào:

    “Do những tác động của lịch sử, tiếng Việt được hình thành không trên cơ sở sau đó có được đủ các nghiên cứu hàn lâm với các nghiên cứu do các học giả Pháp thực hiện từ xưa không nhằm phục vụ người Việt, và do các trường đại học Việt Nam hiện nay xây dựng qua các giáo trình không nhằm phục vụ nền giáo dục nói chung của Việt Nam mà riêng dành cho phân khoa ngôn ngữ hay xuất bản dành cho số ít các độc giả tự do.”  (tr. 214)

    “ Trong khi bộ môn từ vựng học tiếng Việt đã được xây dựng tại một số trường đại học ở Việt Nam, các công trình hoặc giáo trình vẫn mang nặng tính chuyên biệt, riêng biệt, và theo định hướng thuần túy hàn lâm kiểu các công trình nghiên cứu ngôn ngữ đặc thù do các nhà ngôn ngữ học trên thế giới thực hiện. Tuy nhiên, điểm khác biệt cơ bản là các nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học nhằm chuyên sâu một khía cạnh nhỏ của những vấn đề ngôn ngữ nhằm xây dựng hệ thống l‎ý thuyết mới để diễn giải một mô hình nhận diện mới cho những thực thể ngôn ngữ ; trong khi các tài liệu viết về từ vựng học ở Việt Nam đa số dựa theo các chuẩn nội dung của từ vựng học tiếng Anh để nghiên cứu tiếng Việt theo đúng từng mặt một, như định nghĩa từ, cách tạo lập từ, ngữ nghĩa của từ, các dạng thái đồng âm/đồng nghĩa/trái nghĩa của từ, từ vay mượn, vấn đề biến đổi hình thức và ngữ nghĩa của từ, các nhóm từ tượng thanh/tượng hình, v.v., và có thêm vài chuẩn đặc trưng của tiếng Việt như từ láy, thậm chí cả tu từ.

 Là người chủ trương coi trọng sự phân biệt giữa ngôn ngữ formal/informal (trang trọng/phi trang trọng), nhưng hãy xem cách HHP trích dẫn công trình của các nhà khoa học (Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến) như sau:

Trước khi nói đến “sự trong sáng” của Tiếng Việt, nhất thiết phải xác định tài sản của Tiếng Việt cả hiện hữu nội tại và tiềm tàng vun quén, chẳng hạn bao gồm – song không chỉ giới hạn bởi – cấu tạo từ, nghĩa từ, cụm từ, quan hệ đồng âm/đồng nghĩa/trái nghĩa, biến đổi từ vựng trong triệt tiêu/thêm mới/tăng nghĩa, từ cổ, từ du nhập gốc Hán/Ấn-Âu so với từ thuần Việt, thuật ngữ, phương ngữ, từ nghiệp vụ, từ lóng, từ mới, từ văn khẩu ngữ, từ văn viết (Chữ, Nghiệu, và Phiến, 1997), cả ngôn ngữ cử chỉ và cú pháp (Bloomfield, 1914, 4, 167).”  (lưu ý các từ in đậm – NHC)

Để khỏi mất thời gian của mọi người, tôi xin miễn phân tích và bình luận về những câu trích dẫn trên đây.

4. Để kết thúc bài viết này tôi xin được nói thêm: bài viết này nằm ngoài dự kiến của tôi cũng như bài phát biểu ngẫu hứng của tôi tại Hội thảo ngày 18/6/2011. Hôm đó, tôi đến dự Hội thảo với dự kiến sẽ trình bày bản tham luận “ Tiếng Việt trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế: thách thức và triển vọng”. Tuy nhiên, khi được đọc bài này và một vài bài khác trong  kỷ yếu của Hội thảo (thực ra chỉ là tài liệu của Hội thảo chứ chưa phải là kỷ yếu vì theo thông lệ, kỷ yếu thường xuất bản sau hội thảo trên cơ sở các báo cáo đã được góp ý, chỉnh sửa) tôi đã quyết định không trình bày báo cáo của mình mà phát biểu ý kiến trao đổi thẳng thắn về những vấn đề được các bài viết đặt ra, và riêng với bài viết của anh HHP là những vấn đề đã nêu trên đây (trừ phần nói về tên các nước). Đúng là so với anh HHP, tôi đã bị “thiệt” vì  không có thời gian để trình bày bài của mình, không được đăng toàn văn (vì kỉ yếu in trước Hội thảo thay vì in sau Hội thảo như thông lệ), và cũng không có phong bì (nghe anh HHP.nói là khá dày (!). Tuy nhiên, với tôi đó là một Hội thảo thành công, vì điều quan trọng nhất là tôi đã nói được những điều cần nói. Còn tôi có “chụp mũ” cho anh HHP hay không xin để các đại biểu dự Hội thảo hôm đó và những người đọc bài viết này phán xét.

      Hà Nội 24/11/2011

      NHC

Tác giả gửi cho Quê choa

(*) PGS. TS, Chủ nhiệm Khoa Ngôn ngữ học, Trường Đại học KHXH&NV, ĐHQG Hà Nội

     Email: nghcon@gmail.com

Advertisements