HỌC TẬP TIỀN NHÂN NÊN THÀNH TÂM

HOÀNG LẠI GIANG

Âm – dương không còn là một đại lượng trừu tượng đối với con người. Tôi không đi sâu vào mặt triết học của cặp phạm trù này, mà chỉ muốn tìm hiểu âm dương ở mặt tâm linh. Với con người, âm – dương  chỉ hai thế giới đối lập của tồn tại mang ý nghĩa vật chất và tồn tại mang ý nghĩa tâm linh. Nói cách khác đấy là thế giới những tư duy khác nhau và thế giới của những linh hồn. Khi một trạng thái tim ngừng đập thì cũng là lúc tư duy của con người ấy ngưng hoạt động. Đấy không phải là sự mất đi của một vật chất, mà là vật chất này đã chuyển qua một trạng thái khác của con người. Đấy là linh hồn. Linh hồn không phải là vật chất hữu hình, nhưng linh hồn ẩn khuất trong những cá thể cá biệt để giúp cho con người hiểu được thế giới âm – thế giới của loài người sau khi đã chết.

          Trước đây thì tôi không tin. Tôi không tin có linh hồn. Tôi không tin có thế giới của con người khi đã chết. Với tôi, thời ấy, chết là hết. Một trái tim ngừng đập! Một cuộc đời chấm hết! Nhưng tôi không bài xích cúng giỗ. Khác với người phương Tây, cúng giỗ của người phương Đông là dịp để tưởng nhớ và tri ân, học tập và làm theo những gì tốt đẹp, từ việc làm đến tư tưởng, tư duy, đạo đức, … của người đã chết.

          Âm – Dương  là hai thế giới của con người. Khi con người ấy chết  đi , con người ấy trở về cõi âm. Người phương Đông rất kỵ khi một người đã chết mà không được chôn cất, không được trở về với “cát bụi”, không được trở về với thế giới bên kia, thế giới của những linh hồn, thế giới của riêng họ. Mỗi người dù sang hay hèn đều có ngôi nhà riêng của mình –đấy chính là nấm mồ, là ngôi mộ .

          Chủ tịch Hồ Chí Minh đã “về với thế giới bên kia” từ năm 1969…. Nhưng Người vẫn nằm đó, giữa lòng Hà Nội, hiện hữu như một người dương thế. Những học trò của Người vì kính trọng Người mà muốn Người mãi mãi trường tồn cùng nhân dân mình. Một ý muốn thật đáng trân trọng … nhưng lại mang ý nghĩa chủ quan phi truyền thống và hoàn toàn xa lạ với phong tục tập quán người Việt. Hơn nữa chủ tịch Hồ Chí Minh còn có “di chúc”.

          Với những nguời còn sống, di chúc của Người đã từ giã thế giới này là thiêng liêng. Di chúc  là tổng kết ngắn gọn nhất suy nghĩ, hi vọng … của một đời người.Di chúc là nhằm gởi những trải nghiệm suy tư của một đời người đối với những người thân yêu  còn sống trên dương thế.

          Di chúc của chủ tịch Hồ Chí Minh là bản đúc kết tư tưởng lớn của Người – tư tưởng đoàn kết và đại đoàn kết, đoàn kết trong Đảng giữa các đồng chí với nhau, đoàn kết trong Đảng với người ngoài Đảng, đoàn kết giữa các Đảng anh em….

          Di chúc của chủ tịch Hồ Chí Minh là bản đúc kết quan điểm nhân sinh của Người – một người phương Đông: Đó là trở về với Đất, sẽ làm học trò, làm bạn với những bậc cách  mạng tiền bối: Mác – Anghen – Lênin…. Người coi việc trở về với thế giới âm là tất yếu, là qui luật của tự nhiên. Cùng với việc được trở về  với thế giới bên kia, Người còn dặn dò rất kỹ, rất cụ thể: “Sau khi tôi qua  đời, chớ nên tổ chức đám đình, lãng phí thời giờ và tiền bạc của nhân dân”. “Tôi yêu cầu thi hài tôi được đốt đi…. Tro xương thì tìm một quả đồi mà chôn gần Tam Đảo và Ba Vì như hình có nhiều đồi tốt…. Trên mộ nên xây một cái nhà giản đơn, rộng rãi, chắc chắn, mát mẻ để những người đến thăm viếng có chỗ nghĩ ngơi…”

          “Nên có kế hoạch trồng cây trên đồi. Ai đến thăm thì trồng một cây làm kỷ niệm. Trồng cây nào phải tốt cây ấy, lâu ngày cây nhiều thành rừng…”(Toàn tập Hồ Chí Minh – XB lần thứ 2 – Tr 499 – 500)

          Tôi nghĩ những nhà lãnh đạo Việt Nam, những học trò của Người lại luôn mong muốn Người có mặt ở trần thế, luôn đồng hành và lãnh đạo, chỉ bảo toàn Đảng, toàn dân vượt qua mọi thử thách. Chắc chắn họ cũng nghĩ đấy là nguyện vọng của nhân dân Việt Nam đối với một lãnh tụ đã hiến dâng  cả cuộc đời cho đất nước và cho dân tộc.

          Nhưng có thời gian, ngẫm nghĩ lại, thấy chính chúng ta đã không nghe theo lời nhắn gởi của Bác. Tính thiêng liêng của một bản di chúc mà Người sữa đi sữa lại nhiều lần trong nhiều năm đã tự nhiên mất đi giá trị cao quí, giá trị thực tiễn của nó.

          Trước khi từ giã thế giới này, Người căn dặn không được cúng viếng linh đình tốn tiền của nhân dân. Và Người đề nghị được hỏa táng và tro được chôn ở Ba Vì hay Tam Đảo. Đấy là mong muốn của Người, trăn trối của Người, ước nguyện của Người. Người muốn nằm dưới một rừng cây do nhân dân của Người vun  trồng. Một ước nguyện thật ý nghĩa mang tầm vóc thời đại, hợp với lẽ trời đất, hợp với qui luật âm dương. Những suy nghĩ rất chân tình nhưng chính chúng ta đã không nghe và làm theo Người, không tuân thủ qui luật âm dương của Trời – Đất.

          Nếu ai đó chưa tin ở thế giới tâm linh thì hãy trả lời xem, hàng chục năm có lẻ  hàng vạn hài cốt không tên trong hai cuộc kháng chiến đã được  các nhà ngoại cảm tìm ra tên tuổi và đưa trở về với gia đình hoặc qui tập về  cùng với đồng đội như thế nào. Mới đây nhất là trường hợp cố tổng bí thư Hà Huy Tập, sau hơn sáu mươi năm nằm dưới đất ở một nền nhà dân Hóc Môn TP Hồ Chí Minh đã được  tìm thấy và đưa về quê hương. Công việc tìm kiếm này có công đóng góp của cơ quan tiềm năng con người , ba nhà ngoại cảm và  của Sở văn hóa Hà Tĩnh cùng gia đình. Tư liệu tìm kiếm hài cốt này được ghi lại tỉ mỉ và đang lưu ở Sở văn hóa.

          Thế giới tâm linh là một phạm trù khoa học mà hiện thời khoa học vẫn chưa cắt nghĩa nổi. Nó tồn tại như một thực thể kết nối giữa người đang sống và người đã chết. Trong mối quan hệ âm – dương ấy hiện hữu một mối quan hệ tâm linh chỉ dành cho những ai thành tâm và có điện năng đặc biệt.

          Truyền thống văn hóa của người phương Đông là thành tâm tin vào sự hiện hữu của linh hồn những người thân đã khuất. Những linh hồn ấy luôn soi xét và phù hộ những người đang sống.

          Người đã chết mà vẫn còn ở trần thế, ở cõi dương, ở chung với người sống… là phi truyền thống, nghịch lẽ âm – dương, trái qui luật, phạm nguyên tắc ứng xử!!! Và đấy chính là hiểm họa khôn lường mà con cháu phải gánh chịu! Ngoài tuổi “thất thập”, tôi trải nghiệm và truyền lại con cháu tôi như vậy.

          Đưa Bác trở về với Đất, với cõi âm, với thế giới người chết là hợp lẽ Trời – Đất, hợp qui luật, hợp truyền thống văn hóa ngàn đời của người Việt, hợp lò..ng dân.

          Học tập Bác không thể không nghe lời trối trăn của Bác, không theo nguyện vọng của Bác. Học tập Bác không thể làm trái ý Bác…trước tiên là di chúc của Bác ..

          Nguyện vọng của Nguyễn Tất Thành khi ra đi tìm đường cứu nước là giải phóng dân tộc khỏi ách đô hộ tàn bạo của thực dân Pháp, xây dựng một nhà nước độc lập, tự chủ, ai ai cũng có cơm ăn, áo mặc, trẻ con được đi học, người già được chăm sóc tử tế, mọi người đều bình đẳng, “một xã hội dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ”…. Tuy chưa hoàn toàn như ý, nhưng đất nước đã được độc lập, non song đã qui về một mối, đời sống nhân dân đã được cải thiện.

          Nhớ ơn chủ tịch Hồ Chí Minh là nét văn hóa “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc Đại Việt.

          Nhân dân không phải vì sợ tốn kém – Sự thật thì rất tốn kém khi phải nuôi một trung đoàn bảo vệ lăng và di hài của Người, hàng năm phải bảo dưỡng… điều mà Người rất lo, rất sợ. Trong mọi sự lãng phí, Người ghét nhất lãng phí tiền của nhân dân vào những việc trái đạo lý, trái tự nhiên, trái qui luật…. Nhưng nhân dân mong muốn được ghi công ơn Người trong trái tim mình. Nhân dân rất sợ vì nhớ công ơn Người mà giữ Người ở dương thế, không phải thế giới của Người đã ra đi vĩnh viễn !! Vậy là học tập Bác mà làm theo ý ta. Lại là một thứ duy ý chí !

          Nên đưa Người về Tam Đảo hay Ba Vì. Chắc chắn năm đến bảy năm sau, Người sẽ được nằm dưới đại ngàn.

          Lăng Nguời – coi như đền thờ của Người – vẫn giữ nguyên và nhân dân có thể viếng Người bất kể lúc nào.

          Đấy là tấm lòng thành tâm học tập chủ tịch Hồ Chí Minh cụ thể nhất, nghiêm túc nhất.

          TP Hồ Chí Minh 10 tháng 1 năm 2011

Tác giả gửi cho Quê choa

Advertisements