Mô hình một Đảng lãnh đạo vẫn cầm quyền tốt

NGUYỄN TÂY NINH

NQL:  Để có một cơ chế tam quyền phân lập trong chế độ một đảng lãnh đạo thật khó như đơm đó ngọn tre. Nhiều chuyên gia vẫn nổ lực tìm kiếm một mô hình ngõ hầu được anh được ả, được cả đôi đường. Bác Nguyễn Tây Ninh đề xuất một mô hình, nghe bác bảo còn nhiều mô hình nữa, đây mới là mô hình 1. Đọc thì thấy cũng vui vui, cũng có lý. Tuy nhiên có thể dễ dàng chỉ ra nhiều điểm bất cập, nhưng khi nào gặp bác thì mình mới tranh luận, tranh luận trên blog bất tiện.

Nước ta đã mở cửa và hội nhập với thế giới bên ngoài đã gần 25 năm, trong khoản thời gian gần 25 năm qua ta đã từng bước “tiến lên” từ bao cấp đến nữa bao cấp và giờ đang đi lên kinh tế thị trường định hướng XHCN. Về mặt kinh tế thì có thể nói là đã theo con đường cạnh tranh nhiều thành phần với sự “định hướng” và nhà nước vẫn nắm giử một số nghành chủ chốt bằng các Tập đoàn kinh tế hay các Tổng công ty nhà nước. Tuy nhiên nền chính trị của chúng ta vẫn theo con đường đơn nguyên tức là một Đảng lãnh đạo duy nhất như đã ghi trong Hiến pháp năm 1992. Sắp tới đây chúng ta tiến hành sửa đổi bản Hiến pháp này và rất nhiều thành phần xã hội đang chờ đợi bản Hiến pháp mới sẽ có những cải cách về chính trị cũng như cụ thể hóa vai trò lãnh đạo của Đảng hiện nay. Thật sự mà nói thì để có những cải cách hướng đến canh tân đất nước, đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu tiến lên cùng thế giới văn minh phải do Đảng trực tiếp làm những điều này bởi lẽ trong đời sống chính trị xã hội hiện tại của nước nhà vai trò của họ đang bao trùm toàn diện. Cái cần chính yếu là nên chăng chuyển từ mô hình Đảng lãnh đạo như hiện nay sang mô hình Đảng cầm quyền với những điều luật cụ thể quy định chức năng và quyền hạng của Đảng trong Hiến pháp và cụ thể hóa sự cầm quyền bằng một đạo luật chung và giao quyền lãnh đạo trực tiếp cho cá nhân và các ủy ban chuyên trách sẽ giám sát hoạt động.

Mình đồng quan điểm với một số người rằng, trong điều kiện hiện tại chúng ta “không cần” có nhiều Đảng và Đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn là lực lượng lãnh đạo duy nhất. Vì thế nên có những cải cách về mô hình cầm quyền với Trung ương Đảng chuyển thành Thượng viện và Quốc hội dân cử chuyển thành Hạ viện với cách thức bầu cử và phân quyền chấp pháp như sau:

1. Trung ương Đảng do đại hội toàn quốc của Đảng bầu gọi là các ủy viên Thượng viện, số lượng ủy viên Thượng viện của các tỉnh được phân bổ tùy theo tỉ lệ dân số và diện tích lớn nhỏ với từ 1 đến 2 ủy viên trong một tỉnh, những thành phố lớn như Hà Nội, Tp. HCM…là những trung tâm chính trị, kinh tế đầu tàu thì số lượng ủy viên Thượng viện sẽ nhiều nhất từ 5 đến 7 ủy viên, quân đội cũng có tối đa 5 sĩ quan trong Thượng viện. Tổng số ủy viên Thượng viện không quá 120 người. Đại hội toàn quốc chỉ nên tiến hành ở cấp tỉnh và cấp Trung ương, ở đại hội cấp tỉnh tiến hành bầu các ủy viên Thượng viện cho tỉnh và vị này đương nhiên là Thượng nghị sĩ không  cần phải bầu lại ở đại hội Trung ương. Sau khi các tỉnh bầu xong tiến hành triệu tập đại hội Trung ương, tại đây Thượng viện tiến hành công tác bầu chủ tịch Thượng viện và các ủy ban chuyên trách về pháp chế, quốc phòng an ninh, đối ngoại…đặc biệt có Ban bí thứ chuyên lo công tác Đảng, ban này có thể hiểu là Bộ chính trị. Thượng viện không tham gia công tác hành pháp mà chỉ giám sát các hoạt động của hành pháp, tuy nhiên Thượng viện sẽ có những quyền lực nhất định để đảm bảo tính nguyên tắc một Đảng cầm quyền.

2. Hạ viện dân cử quy định số dân biểu là 500, trong đó có 100 dân biểu do Thượng viện chỉ định và những người được chỉ định không phải là những thượng nghị sĩ, 400 dân biểu còn lại do dân bầu và quy định mổi một người muốn tranh cử Hạ viện phải thu thập đủ 10000 chử ký ủng hộ, chỉ đơn giản như vậy. Thành viên Hạ viên bầu theo các tỉnh và chức danh tỉnh trưởng được bầu trực tiếp luôn trong lần này, tỉnh trưởng hiển nhiên là thành viên Hạ viên nhưng không chuyên trách. Sau khi bầu xong tiến hành triệu tập họp Quốc hội, tại đây Thượng viện giới thiệu 2 thành viên trong số 100 người do mình chỉ định hoặc các đại biểu là Đảng viên và Hạ viện giới thiệu 1 thành viên trong số còn lại để bầu Chủ tịch quốc hội với tỉ lệ 1 chọi 3. Sau khi bầu Chủ tịch Hạ viện xong tiến hành bầu Thủ tướng. Để bầu Thủ tướng thì Thượng viện giới thiệu 2 thành viên, Hạ viện giới thiệu 1 người và Chủ tịch Hạ viện giới thiệu 1 người. Sau khi có Thủ tướng mới trong vòng 15 ngày Thủ tướng trình danh sách thành viên Nội các để Hạ viện biểu quyết thông qua, để được thông qua chức danh bộ trưởng trong chính phủ thì phải được 50% phiếu tán thành trở lên.

3. Thời điểm giửa bầu Thượng viện và Hạ viện nên cách nhau khoản 1 tháng, trong vòng 15 ngày sau đại hội toàn quốc của Đảng để bầu Thượng viện, phải ổn định công tác tổ chức của Thượng viện sau đó Thượng viện thành lập hội đồng bầu cử quốc gia với Chủ tịch hội đồng là 1 Thượng nghị sĩ có uy tín lớn và người đó không phải là Chủ tịch Thượng viện để tổ chức bầu Quốc hội dân cử. Hội đồng này bao gồm 9 thành viên trong đó có 4 Thượng nghị sĩ, 3 thành viên Tối cao pháp viện, 1 thành viên Mặt trận và 1 thành viên của Hạ viện cũ có thể là Chủ tịch Hạ viện cũ. Quy định cụ thể thành luật luôn đã là Thượng nghị sĩ thì không được kiêm nhiệm Hạ nghị sĩ.

4. Chấp pháp: Thượng viện làm công tác giám sát hành pháp bao gồm Hạ viện và Chính phủ. Thượng viện nắm giử quân đội. Thượng viện thành lập Bộ tổng tư lệnh quân đội do một đại tướng 4 sao và là ủy viên Thượng viện nắm giử chức Tổng tham mưu trưởng để chỉ huy toàn quân. Bộ tổng tư lệnh quân đội đặt dưới sự giám sát của ủy ban quốc phòng an ninh của Thượng viện. Vai trò của chủ tịch Thượng viện được quy định cụ thể thành một điều luật riêng hoạt động dưới sự giám sát của Ban bí thư. Chủ tịch thượng viện không phải là nguyên thủ quốc gia. Vai trò của Hạ viện là lập pháp có chức năng làm luật, giám sát trực tiếp hoạt động của Chính phủ, thông qua các chính sách điều hành của Chính phủ…Hạ viện có quyền yêu cầu bỏ phiếu bất tín nhiệm Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ hoặc một hay nhiều thành viên Chính phủ. Vai trò của Chính phủ là hành pháp, toàn quyền điều hành đất nước về đối nội và đối ngoại nhưng không nắm giử quân đội, vị trí bộ trưởng quốc phòng là một dân biểu dân sự chủ yếu làm chính sách chứ không cầm quân. Thủ tướng Chính phủ hưởng quyền nguyên thủ quốc gia chịu trách nhiệm chính về đối nội và đối ngoại. Thượng viện có quyền giải tán quốc hội trong trường hợp khẩn cấp ví như quốc hội yếu kém hoạt động không hiệu quả hoặc trường hợp có 50% số đại biểu biểu quốc hội yêu cầu tổ chức bầu cử sớm hoặc trong trường hợp đất nước bị ngoại xâm Thượng viện có quyền đình chỉ hoạt động của Hạ viện một thời gian. Tất cả các văn kiện ký kết của Thủ tướng Chính phủ với nước ngoài mà liên quan đến chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ lãnh hải của Tổ quốc phải được Thượng viện thông qua mới có hiệu lực pháp lý. Thủ tướng được hưởng quyền miễn truy tố trong thời gian cầm quyền. Vai trò quyền hạng của Chính phủ rất lớn tuy nhiên đi kèm là một sự giám sát chặt chẽ song song để đảm bảo Chính phủ hoạt động đúng nguyên tắc hành pháp.

5. Tòa án: Thượng viện bổ nhiệm tòa án tối cao và các hệ thống tòa cấp địa phương hoạt động hoàn toàn độc lập so với nhánh hành pháp của Quốc hội. Thượng viện cũng thành lập tối cao pháp viện có khoản 9 đến 11 thành viên, những người này không phải là Thượng nghị sĩ đương nhiệm mà chủ yếu là các cựu Thượng nghị sĩ có uy tín lớn của các khóa trước, các chuyên gia luật hàng đầu của đất nước, họ có thể được bổ nhiệm suốt đời.

*****trên đây có thể tạm coi là mô hình 1…(còn tiếp)*****

Theo blog NTN

Advertisements