HỒN CHÉN & ĐŨA

Ngô Minh

 Những ngày cuối năm 2011, đến New space arts foundation – Làng nghề Huế TT văn hóa Phương Nam ở 15- Lê Lợi Huế, xem cuộc triển lãm rất quy mô  “Những con số ” của hai anh em nghệ sỹ song sinh Lê Ngọc Thanh và Lê Đức Hải,  tôi thực sự kinh ngạc và ám ảnh bởi ba tác phẩm nghệ thuật đương đại cô đặc tư duy và cảm thức sáng tạo : Chén và đũa 1945, Giường nội trú, 1991 và Chạm tới biển, 2011 được giới thiệu ở đây. Đây là lần đầu tiên tôi bị nghệ thuật đương đại chinh phục hồn vía trọn vẹn và no nê nhất.

  Chạm tới biển 2011( video arts ) là những mảnh đời chắp nối, những niềm vui vô thanh, những nỗi đau lấp vùi và trỗi dậy, những giận dữ vỡ sóng, những rời rạc và kết nối, những vào ra đứt đoạn, những ràng buộc không thể dứt ra.v.v.. của hai con người giống nhau như hai giọt nước, như hai giọt biển Nhật Lệ, Quảng Bình. Họ lớn lên cùng những  biến cố tan-hợp, được – mất… đều được biển cưu mang, bồi đắp và lưu giữ. Đây không phải là câu chuyện cuộc đời những ngư phủ được kể lại, mà là những mảnh đời lay động , những nấm môi, những chuyến khơi lộng, những số phận tiếp nối không ngưng nghỉ tạo nên chân dung biển quá khứ và hiện tại . Sức cảm hóa của Chạm tới biển là những lưu ảnh khó phai trong mắt người xem, tạo nên những ám ảnh, ràng buộc. Chạm tới biển, 2011 của Thanh-Hải chính là  âm vang của cuộc sống đang sôi sùng sục trong  từng li ti huyết của mỗi con dân Việt hôm nay. Giường nội trú 1991 (sắp đặt), là câu chuyện ký ức, hoài niệm của chính hai anh em sau 10 năm rời khu nội trú Trường Đại học đi ra với thế giới. Gường nội trú sinh viên không còn là nỗi lo lắng, sợ hãi nữa. Cảm thức về Gường nội trú không dừng lại ở công dụng vật chất ít ỏi của hiện vật cụ thể , mà cao hơn, đó là cái nôi sinh thành, nơi ấp ủ những giấc mơ trẻ dại, là bệ phóng  của tất cả những hào quang rồng- phụng của mọi cuộc đời. Bởi thế mà hai chiếc Gường nội trú được sơn son thếp vàng, trướng phủ màn che giống y hệt của Vua và Hoàng Hậu trong cung điện một thời. Đó là hy vọng mà cũng là niềm tự hào thực tại. Xem hình ảnh hai anh em Thanh- Hải ngồi trên giường nội trú , ta hiểu họ đã hàng ngàn đêm với những giấc mơ tiên ở đó,  và họ đang trở về trong sơn son thếp vàng…(?)

  Có lẽ tôi cũng như nhiều văn nghệ sĩ, trí  thức khi xem triễn lãm Những con số, bị rợn ngợp và ám ảnh bởi tác phẩm Chén và đũa,1945 (sắp đặt installation ). 1945 cái chén ( bát) và 1945 đôi đũa sơn mài được xếp bên nhau, thẳng hàng ngang, hàng dọc, đôi đũa đặt trên miệng chén, tạo nên một không gian lấp lánh, lung linh huyền ảo. Sức mạnh và sự mê hoặc của nghệ thuật sắp đặt đã được huy động tối đa trong tác phẩm lạ lùng này. Chén và đũa là cái quen thuộc với mỗi người Việt nói riêng và phương Đông nói chung. Người ta một ngày hai đến ba lần bưng bát cầm đũa. Đời người từ khi sinh ra cho đến ngày về với đất, phải vài ba chục vạn lần cầm bát đũa. Cả trăm triệu người cầm bát đũa. Bao nhiêu thế hệ  người cầm bát đũa. Cho đến khi không còn  cầm được bát đũa nữa, đã nằm trong áo quan, con người vẫn không rời bát đũa. Bát cơm, quả trứng, đôi đũa đặt ở đầu quan tài người chết là hình ảnh đã trở  nên thiêng liêng mà rất gần gũi trong tâm thức nòi giống Việt. Những cái chén , những đôi đũa tưởng bình thường, tầm thường , xếp bên nhau, rồi tràn ra mênh mông như là sự kết nối cái đơn côi với cộng đồng;  kết nối xa – gần, kết nối chính kiến ; kết nối chia lìa và đoàn tụ , kết  nối đau khổ và  vui vầy ; kết nối âm dương, kết nối quá vãng và thực tại…Trước không gian sắp đặt Chén và đũa sơn mài, tôi thấy ánh lên những tia nhìn hoang sơ, những ánh mắt ấm áp tâm linh hối thúc, kêu gọi. Càng nghĩ càng nổi da gà xúc cảm.

            Nhưng tại sao lại là Chén và đũa,1945 ? Năm Ất Dậu 1945 là năm hai triệu người Việt Nam chết đói. Những ngày đó bao xóm làng vắng tiếng lanh canh bát đũa. Hình hài đất nước còm nhom, quặt quẹo. Những âm hồn chết đói gào thét đòi bát đũa trên những cánh đồng hoang gió, trên bờ tre khắc khoải. Phải chăng không gian sắp đặt Chén và đũa,1945 là không gian tưởng niệm, giống như mình đang đứng trước một nghĩa địa ký ức mênh mông, đang phát sáng. Rất nhiều sách vở, báo chí, tranh, ảnh đã nói về nạn đói Ất Dậu, nhưng có lẽ nói theo nghệ thuật sắp đặt Thanh -Hải là cách nói xúc động và hiệu ứng nhất. Vâng, những  chén và đũa ấy như có hồn, đang nói với chúng ta về thân phận con người và lịch sử đất nước.

         Cặp họa sĩ song sinh Thanh-Hải là một hiện tượng  rất hiếm thấy trong giới mỹ thuật đương đại Huế, cũng như cả nước. Hai anh em sinh đôi năm 1975 ở Quán Hàu, bên dòng sông Nhật Lệ. Họ giống nhau như hệt, Ăn nói bỗ bã, sống có vẻ rất bụi, ngỡ như cao ngạo, kiêu căng, nhưng đó chính là sự tự tin, bản lĩnh và sự mộc mạc chân quê Quảng Bình nắng gió. Hai người  giống nhau cả trang sức vòng khuyên bạc xỏ mũi xỏ tai. Có chung số điện thoại di động, chung địa chỉ email , vẽ tranh cùng một phong cách,  chỉ có vợ con nhà ở là khác nhau. 11 năm sau khi tốt nghiệp Trường Đại học Mỹ thuật Huế ,Thanh-Hải đã khẳng định chỗ đứng vững chắc của mình trong giới cầm cọ và cả trong nghệ thuật đương đại  bằng hàng chục cuộc triển lãm trong và ngoài nước. Cái tên Thanh -Hải đã trở thành tên chung của một thương hiệu mỹ thuật được du khách và các nhà sưu tập nước ngoài ưa chuộng. Hai anh em đã triển lãm tranh và trình diễn nghệ thuật nhiều lần ở Mỹ, Pháp, Đức,Thái Lan, Nam Phi, Nhật, Italia,… 

        Người yêu mỹ thuật ở Huế và cả nước đều quen biết với New Space Arts Foundation (N.S.A.F.) do hai anh em đồng sáng lập và điều hành.  Ở Huế, Thanh -Hải vừa có gallery ở  đường Phạm Ngũ Lão để trưng bày tác phẩm của mình và của các nghệ sỹ khác, vừa có cơ sở nhiệm trú cho các nghệ sỹ trong nước và quốc tế khi đến tham gia hoạt động và sáng tác tại New Space Art Foundation với không gian 600m2 ở xóm 3, thôn Lại Thế, xã Phú Thượng, Huyện. Phú Vang. Hai năm nay, để tiện  hoạt động, hai họa sĩ đã phối kết hợp với Làng Nghề Huế TT văn Hóa Phương Nam ngay trung tâm Huế để  tiện cho các cuộc triển lãm nghệ thuật . Nhiều họa sĩ ở Huế như Hoàng Đăng Nhuận, Phan Hải Bằng, Võ Xuân Huy,v.v… cũng đã trưng bày tranh, ảnh của mình ở New Space Arts Foundation. Nhà thơ Nguyễn Duy, Mai Linh, Lâm Thị Mỹ Dạ… cũng đã “trình diễn“ thơ lục bát ở đây. Nhóm làm phim của bố con nhà văn Ngô Thảo ở Hà Nội cũng đã giới thiệu phim mới ở đây.  Ở New Space Art Foundation còn giới thiệu những tác phẩm âm nhạc mới, những cuốn sách mới, là nơi trình bày các nghiên cứu mới về khoa học nhân văn của nhiều tác giả ở Hà Nội, TP Hồ Chí Minh. Tất cả đều do Thanh – Hải đứng ra tổ chức.

       Theo họa sĩ Phan Thanh Bình, hiệu trưởng Trường Đại học Mỹ thuật Huế, thì cặp họa sĩ song sinh Thanh – Hải là một trong những người đầu tiên đưa nghệ thuật đương đại về với Huế một cách thành công nhất. Có thời  kỳ, Thanh-Hải đã thực hiện chương trình phục dựng tranh làng Sình bằng cách mời nghệ nhân Kỹ Hữu Phước và gia đình lên thực hiện tại New Space Art Foundation . Thanh-Hải tâm sự: “…muốn bảo tồn chúng phải bảo tồn trong môi trường đương đại với những chiến lược gắn liền với kinh tế và văn hóa, du lịch thì mới có thể tránh sự mai một của một nghề tranh lâu đời”.

  Kết thúc mỗi năm hoạt động nghệ thuật, hai anh em đều có cuộc triển lãm tổng  kết rất ấn tượng. Năm 2010, 35 năm sau ngày đất nước thống nhất, hai anh em dắt nhau về Hiền Lương tìm lại chân dung nỗi đau chia cắt một thời bằng tác phẩm Cây cầu (Video arts). Đây là sự tìm về nguồn cội, tìm về bản ngã dân tộc. Cây cầu đã nối lại hai miền đất nước yêu dấu đúng bằng tuổi của họ. Năm nay là triễn lãm rất ấn tượng Những con số 1945, 1991, 2011.

           Có người cho rằng, giới nghệ sĩ trẻ  hiện nay chỉ  chú ý nhiều đến tình yêu đôi lứa, những hình thức nghệ thuật siêu thực, tượng trưng , mà ít quan tâm đến đề tài đất nước và cộng đồng. Qua cặp nghệ sỹ song sinh Thanh -Hải, sinh năm 1975, tôi thấy các anh không chỉ làm nghệ thuật đương đại về đất nước, cộng đồng mà tạo nên các tác phẩm chất lượng cao, ám ảnh người xem, vừa siêu thực lại vừa hiện thực trong tâm linh, tâm cảm.

Tác giả gửi cho Quê choa

Advertisements